35.6 C
Hanoi
Thứ Năm, 4 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Trang chủ Blog Trang 12

THÔI BỐI ĐỒ (推背图)

0

THÔI BỐI ĐỒ (推背图)

Phong Thủy Thăng Long

Thôi Bối Đồ (Bức tranh sau lưng): là một kỳ thư tiên tri trong lịch sử Trung Quốc.
Theo những tương truyền kể lại, cách đây hơn 1300 năm, Đường triều Thái Tông hoàng đế (tức Lý Thế Dân) yêu cầu hai vị Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cương tiên đoán cho quốc vận đời Đường, Một người dùng thuật Thiên can ( lấy hào dương cương làm chủ), một người dùng thuật Địa chi (lấy hào âm nhu làm chủ), hai người ngồi đâu lưng vào nhau để bói toán rồi đưa ra sau lưng nên có tên gọi là Thôi bối đồ.
Một làm tranh vẽ để hình tượng sự việc sẽ ra, một dùng câu thơ để chiết giải. Nhưng Lý Thuần Phong càng tiên đoán thì càng say mê, khiến ông đã tiên đoán quốc vận của Trung Quốc đến 2000 năm sau, chỉ đến khi Viên Thiên Cương thúc đẩy vào lưng Lý Thuần Phong mà nói: “Thiên cơ không thể tiết lộ, hãy nghỉ ngơi đi.”, cũng chính là bức tranh cuối cùng thứ 60 khiến Thôi Bối Đồ nổi tiếng từ ấy.
Thôi Bối Đồ gồm tổng cộng 60 bức tranh, bức tranh đầu là lời mở đầu và bức 60 là lời kết.
60 bức tranh đó được chia thành như sau:
· Đời Đường: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

  • Ngũ Đại Thập Quốc: 10, 11, 12, 13, 14
  • Đời Tống: 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24
  • Đời Nguyên: 25, 26
  • Đời Minh: 27, 28, 29, 30, 31, 32
  • Đời Thanh: 33, 34, 35, 36
  • Dân Quốc: 37, 38, 39 ( thời kỳ Tôn Dật Tiên, Tưởng Giới Thạch, Mao trạch Đông)
  • Dân Quốc 38 năm sau: từ 40 đến 59 (sau thời Mao cho tới nay và thời gian sắp tới, rất quan trọng có dịch nghĩa từ đồ hình)

Thôi Bối Đồ chia làm hai phần tiên đoán, đó là hình và chữ. Nếu chỉ nhìn hình không thì không thể nào hiểu thấu được thiên cơ trong đó mà phải có chữ đi kèm mới giải ra được chính xác hơn. Và vì sự tiên đoán quá chính xác của Thôi Bối Đồ khiến nó bị liệt vào hàng sách cấm.
Cũng theo một số ghi chép cho biết thì Thôi Bối Đồ xuất hiện khá nhiều dị bản. Tuy vậy hiện nay tại Viện bảo tàng Cố Cung Đài Bắc có lưu giữ lại một bản Thôi Bối Đồ do năm xưa vua Càn Long mời Kim Thánh Thán* đến bình giải. Và thời Kim Thánh Thán còn sống thì sự việc đã ứng đúng với bức tranh thứ 33. Và cũng vào đời vua Càn Long, khi ấy liên quan Anh Pháp tấn công Bắc Kinh đã lấy được cuốn Thôi Bội Đồ buộc Lý Tín Khanh phải dùng 12 viên minh châu để chuộc lại.
Theo như một số chuyên gia cho rằng thì từ bức thứ 39 đến 47 là những tiên đoán về quốc vận Trung Quốc trong thế kỷ 20 đến nửa đầu thế kỷ 21; còn từ bức thứ 48 đến 59 là chưa xảy ra.
* Kim Thánh Thán (Phồn thể: 金聖歎; Giản thể: 金圣叹; bính âm: Jīn Shèngtàn; Wade-Giles: Chin Shêng-t’an, sinh 1608-1610? – mất 17 tháng 8 năm 1661), tên thật Kim Vị (金喟), là một nhà văn, nhà phê bình văn học theo lối ấn tượng của Trung Quốc, được người đời sau mệnh danh là “Vua của thể loại văn bạch thoại Trung Quốc”[1]. Ông nổi tiếng là 1 người đọc rộng, uyên bác nhưng tính tình cuồng ngạo, dị kỳ, thường nói trong thiên hạ có 6 bộ sách tài tử (lục tài tử thư): Nam Hoa kinh, Ly Tao, Sử ký Tư Mã Thiên, thơ luật của Đỗ Phủ, Thủy hử và Tây sương ký.
Năm sinh của Kim Thánh Thán chưa được xác định, có người nói năm 1608, có người nói 1610, [2], chỉ biết vào khoảng cuối thời Minh, đầu thời Thanh, mất vào năm Thuận trị thứ 18 đời Thanh thế tổ (1661). Ông có tên khai sinh là Trương Thái, lớn lên mới đổi sang họ Kim. Ông là người Trường Châu, tỉnh Giang tô.
Thời thanh niên, ông bị hỏng trong kỳ thi tuế, lại đỗ đầu kỳ thi khoa sau khi đổi tên thành Nhân Thụy(人瑞). Nhưng lúc này nhà Minh đã mất, ông dứt bỏ ý định làm quan.
Kim Thánh Thán mất trong 1 trường hợp bi đát, bất ngờ:
Năm 1661, vua Thanh ra chiếu đến Giang tô, lệnh các quan từ chức tuần phủ trở xuống đều phải tới phủ trị. Nhân dịp này các học sinh đến tố cáo việc làm phi pháp của viên lệnh huyện họ Ngô. Tuần phủ Châu Quốc Trị bắt liền 5 học sinh. Hôm sau các học sinh lại đến quốc tử giám kêu khóc, bị bắt thêm 30 người, trong đó có Kim Thánh Thán. Nhân lúc vùng Giang Nam đang có giặc cướp, các học sinh trên liền bị khép vào tội phụ hội với giặc, kết án tử hình, tịch biên gia sản.
Trước khi thọ hình, ông than thở: “Chém đầu thì đau đớn lắm, tịch biên thì thê thảm lắm, thế mà ngờ đâu Thánh Thán lại gặp cảnh này, kỳ lạ lắm thay !”. Rồi cười mà chịu chết.
Trương truyền ông có nhờ ngục tốt đem thư về cho vợ con trước khi bị xử. Ngục tốt trình lên quan. Ngờ trong thư có lời phỉ báng, quan mở ra xem thì bật cười vì thấy mấy dòng: “Gửi con: dưa muối mà ăn với đậu vàng thì có vị như là hồ đào, nếu phép này mà được lưu truyền thì ta chẳng còn hận chi nữa”.
推背
推背图,传闻是一千三百多年前,由唐朝太宗皇帝(李世民)命两位当时著名的天相家李淳风和袁天罡所作,以推算大唐国运。由于李淳风推算的上了瘾,一 发不可收,竟推算到唐以后中国2000多年的命运,直到袁天罡推他的背,说道:”天机不可再泻, 还是回去休息吧!”,既是第60像所述,所以推背图因此得名。由唐开始一直预言到未来世界大同,当中共包括六十象,六十,代表著循环周而复始的意思。
推背图因为它预言的准确,使历朝历代的统治者心惊,一直被列为禁书,直到今日它在大陆依然没能逃脱禁书的黑名单。我们只有在港台的一些网站得以一览 它的玄妙。而今天我们从网上看到的推背图,是清乾隆年间的举人金圣叹评批的版本,原本现仍保存于台北故宫博物院中,与我们看到的没有出入。(怀疑者可去台 北故 宫)
与西方大名鼎鼎的预言家诺察丹玛斯所著的《诸世纪》不同的是,推背图并没有打乱历史的顺序,而且预言的也都是有关国家兴亡的大事,所以更有研究价 值,其准确性也更高。而最令人感到欣慰的是,它与《诸世纪》预言的悲观世界正好相反,他预言世界大同,天下一家的其乐融融的未来世界,令人鼓舞。
推背图的预言,主要是对中国於治乱兴替之间的重要关键事件作出的。我们发现由於历史漫长,其中发生 过的重要事件无数,而推背图又仅以六十的象来包容,必然会发生一些我们认为很重要的事件而推背图里没有预言的。但其实我们的未来还是未知之数,现在认为重 要的事,说不定在未来有其他更重大的事件。所以在解释上,不能拘泥於一时的政治事件,要理解这六十象纯粹是作者两人,认为对中国最具有「生死存亡」,有深 远意义的「超头等大事」,否则肯定会解读错误。
推背图共六十象,除去第一像引言和最后一象结言并非预言外,共有58像预言,从大唐气数(第2像)一直预言到世界大同(第59像),且每像相接,决 无次序错乱。其中,在金圣叹老先生在世的时候已应验到第33像。一般认为由第三十九至四十七象,是代表由二十世纪中叶至廿一世纪上半叶的中国预言,而且由 三十九至四十二象都已经发生。
解说 :
於一九九九年八月
修订於二零零二年七月
推背全六十象

  • Đời Đường: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

01
第一象 甲子 乾下乾上 乾 谶曰:茫茫天地 不知所止
日月循环 周而复始
颂曰:自从盘古迄希夷 虎斗龙争事正奇
悟得循环真谛在 试於唐後论元机
金圣叹:此象古今治乱相因,如日月往来,阴阳递嬗,即孔子百世可知之意,红者为日,白者为月,有日月而後昼夜成,有昼夜而後寒暑判,有寒暑而後历数定,有历数而後系统分,有系统而後兴亡见

Đệ nhất tượng: Giáp Tí Kiền hạ Kiền thượng Kiền
Sấm viết: mang mang thiên địa, bất tri sở chỉ, nhật nguyệt tuần hoàn, chu nhi phục thủy Tụng viết: tự tòng bàn cổ hất hi di, hổ đấu long tranh sự chánh kì, ngộ đắc tuần hoàn chân đế tại, thí vu đường hậu luận nguyên ky.
Kim Thánh Thán: thử tượng cổ kim trì loạn tương nhân, như Nhật Nguyệt vãng lai, Âm Dương đệ thiện, tức Khổng Tử bách thế khả tri chi ý, hồng giả vi nhật, bạch giả vi nguyệt, hữu Nhật Nguyệt nhi hậu trú dạ thành, hữu trú dạ nhi hậu hàn thử phán, hữu hàn thử nhi hậu lịch sổ định, hữu lịch sổ nhi hậu hệ thống phân, hữu hệ thống nhi hậu hưng vong kiến

02 第二象 乙丑 巽下乾上 谶曰: 硕果 莫明其数
一果一仁 即新即故
颂曰: 万物土中生 二九先成实
一统定中原 阴盛阳先竭
金圣叹:一盘果子即李实也,其数二十一,自唐高祖至昭宣凡二十一主。二九者指唐祚二百八十九年。阴盛者指武当国,淫昏乱政,几危唐代。厥後开元之治虽是媲美贞观,而贵妃召祸,乘舆播迁,女宠代兴,夏娣继之,亦未始非阴盛之象

Đệ nhị tượng: ất Sửu Tốn hạ Kiền thượng Cấu
Sấm viết: thạc quả, mạc minh kì sổ, nhất quả nhất nhân, tức tân tức cố
Tụng viết: vạn vật thổ trung sanh, nhị cửu tiên thành thật, nhất thống định Trung nguyên, Âm thịnh Dương tiên kiệt
Kim Thánh Thán: nhất bàn quả tử tức lí thật dã, kì sổ nhị thập nhất, tự Đường Cao Tổ chí chiêu tuyên phàm nhị thập nhất chủ, nhị cửu giả chỉ đường tộ nhị bách bát thập cửu niên, âm thịnh giả chỉ vũ đương quốc, dâm hôn loạn chánh, kỉ nguy đường đại, quyết hậu khai nguyên chi trì tuy thị bễ mĩ trinh quan, nhi quý phi triệu họa, thừa dư bá thiên, nữ sủng đại hưng, hạ ? kế chi, diệc vị thủy phi âm thịnh chi tượng

Hướng dẫn cơ bản An Kỳ Môn

0
Kỳ Môn Độn Giáp

Phần hướng dẫn này rất quan trọng nếu các bạn không làm theo dù đọc sách cả đời cũng công cóc !
1. Lấy một tấm giấy A4 vẽ hình này lên ! Hình này có ở trang 74 sách này !

Đây là địa bàn .
Các chữ trên nó đều cố định ( Tôi đã sửa chữa vì sách nào in cũng có sai cả )
Ví dụ : Bát môn là các chữ hữu , tử thương …. đều cố định ở địa bàn
Các số 1, 2, 3 …9 là chín số phương vị hậu thiên bát quái .
Chín tinh địa bàn cố định là : Bồng , nhuế , xung … anh cố định ở địa bàn !

Bước tiếp các bạn lấy 1 tấm giấy bìa cứng cắt thành từng mảnh tròn nhỏ mỗi mảnh đường kính 3 cm . Và làm theo thứ tự sau :
1. Lấy 9 mảnh đã cắt lấy viết đỏ viết chín tinh này vào đó mỗi tinh là 1 mảnh .
+ Thiên Bồng tinh
+Thiên Nhậm tinh
+ Thiên Xung tinh
+ Thiên Phụ tinh
+ Thiên Anh tinh
+ Thiên Nhuế tinh
+ Thiên Trụ tinh
+ Thiên Tâm tinh
+ Thiên Cầm tinh
2. Tiếp đến cũng lấy 9 mảnh lấy viết xanh mỗi mảnh ghi lục nghi tam kỳ vào . Mỗi kỳ một mãnh mỗi nghi một mảnh .
Lục Nghi chính là :

+ Mậu (Giáp Tí)
+Kỷ (Giáp Tuất)
+Canh (Giáp Thân)
+Tân (Giáp Ngọ)
+Nhâm (Giáp Thìn)
+Quý (Giáp Dần)

Tam Kỳ chính là :

+ Ất Kỳ (Nhật kỳ)
+ Bính Kỳ (Nguyệt Kỳ)
+ Đinh Kỳ (Tinh Kỳ)
3. Lấy tiếp 8 mãnh lấy bút vàng ghi bát môn vào , mỗi môn 1 mảnh .
Bát môn là :

+Hưu môn
+ Sinh môn
+ Thương môn
+ Đỗ môn
+ Cảnh môn
+ Tử môn
+ Kinh môn
+ Khai môn
4. Tiếp nữa cũng lấy thêm 8 mảnh ghi thần bàn vào ! Mỗi mảnh 1 thần .
Bát thần là :

+ Trực Phù
+ Đằng Xà
+ Thái Âm
+ Lục Hợp
+ Câu Trần (ở Âm độn là Bạch Hổ)
+ Chu Tước (ở Âm độn là Huyền Vũ)
+ Cửu Địa
+ Cửu Thiên
Rồi đó thế là đầy đủ dụng cụ cần thết cho các bạn đào sâu KMĐG rồi đó . Cứ thế đọc sách mà luyện , mà an sao phi bàn bằng mắt bằng tay của các bạn !
Và nhớ là khoan vội dùng phần mềm nhé , các bạn học mà dùng phần mềm sớm quá chắc chắc các bạn chẳng thể tiến đến đâu !

Kỳ Môn Độn Giáp căn bản V

0
Kỳ Môn Độn Giáp

TIẾT THỨ 4 : BÁT MÔN – CỬU TINH – BÁT THẦN

Bát môn là :

+Hưu môn
+ Sinh môn
+ Thương môn
+ Đỗ môn
+ Cảnh môn
+ Tử môn
+ Kinh môn
+ Khai môn

Cửu tinh là :

+ Thiên Bồng tinh
+Thiên Nhậm tinh
+ Thiên Xung tinh
+ Thiên Phụ tinh
+ Thiên Anh tinh
+ Thiên Nhuế tinh
+ Thiên Trụ tinh
+ Thiên Tâm tinh
+ Thiên Cầm tinh (Ở trung cung nên gửi ở cùng cung với Thiên Nhuế – cung Khôn)

Bát môn-cửu tinh trên Hoạt bàn xưa nay không chuyển động, đều là vị trí cố định trong 18 cục Âm Dương độn, Các cục khác nhau, vị trí Môn, Tinh cũng đều giống nhau.

Quay lại nói về thứ tự của Môn và Tinh, thì Hưu Môn – Thiên Bồng bắt đầu từ cung Khảm (số 1), quay thuận theo chiều kim đồng hồ, là :

+ Hưu-Sinh-Thương-Đỗ-Cảnh-Tử-Kinh-Khai
+ Bồng-Nhậm-Xung-Phụ-Anh-Nhuế-Trụ-Tâm-Cầm

Bây giờ nói đến BÁT THẦN :

Bát thần là :

+ Trực Phù
+ Đằng Xà
+ Thái Âm
+ Lục Hợp
+ Câu Trần (ở Âm độn là Bạch Hổ)
+ Chu Tước (ở Âm độn là Huyền Vũ)
+ Cửu Địa
+ Cửu Thiên

Trên Hoạt Bàn, Bát Thần chia nhau bố trí ở 8 cung, đặt trong một bàn nhỏ ở tầng trên cùng. Bàn nhỏ này gọi là THẦN BÀN. Sự bày bố cảu Bát thần trong Âm độn, Dượng độn không giống nhau. Dương độn chuyển thuận, Âm độn chuyển nghịch.

Kỳ Môn Độn Giáp căn bản IV

0
Kỳ Môn Độn Giáp

TIẾT THỨ 3 : CỬU CUNG – LỤC NGHI – TAM KỲ

Cửu cung là khung dàn và trận địa để bố trí Cục, nóa là Lạc thư với Hậu thiên bát quái kết hợp. Số của trung cung là số 5, gửi ở cung Khôn, như vậy theo thứ tự thì có :

+ Cung Khảm – số 1 – Hướng Bắc
+ Cung Không – số 2 – Hướng Tây Nam
+ Cung Chấn – Số 3 – Hướng Đông
+ Trung Cung – Số 5 – (gửi tại cung Khôn)
+ Cung Càn – số 6 – Hướng Tây Bắc
+ Cung Đoài – số 7 – Hướng Tây
+ Cung Cấn – số 8 – Hướng Tây Bắc
+ Cung Ly – Số 9 – Hướng Nam

Như trên đã rõ khung trận địa bài bố CỬU CUNG, còn sẽ bài bố cái gì vào đó? Đó là Lục Nghi và Tam Kỳ.

Lục Nghi chính là :

+ Mậu (Giáp Tí)
+Kỷ (Giáp Tuất)
+Canh (Giáp Thân)
+Tân (Giáp Ngọ)
+Nhâm (Giáp Thìn)
+Quý (Giáp Dần)

Tam Kỳ chính là :

+ Ất Kỳ (Nhật kỳ)
+ Bính Kỳ (Nguyệt Kỳ)
+ Đinh Kỳ (Tinh Kỳ)

Thứ tự sắp xếp cục là : Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, Đinh, Bính, Ất.

Gọi Cục nào, chính là khi sắp xếp cục số Giáp Tí Mậu vào cung nào, Cục số 1 chính là khi Giáp Tí Mậu ở tại cung Khảm (số 1), Cục số 2 chính là khi Giáp Tí Mậu ở tại cung Khôn (số 2), Các cục khác cũng thế mà suy ra.

Kỳ Môn Độn Giáp căn bản III

0
Kỳ Môn Độn Giáp

TIẾT THỨ 2 : SIÊU THẦN TIẾP KHÍ BÀY BỐ THÁNG NHUẬN

Ở trên đã bàn về các cục số Âm Dương độn xác định theo Tiết Khí, thế nhưng tại cục của thời giờ đã định, lại không phải với tiết khí cố định tách bạch trên Địa bàn. Vẫn chỉ căn cứ vào ngày giờ, Thiên can Địa chi. Như vậy cách cục xác định theo Thiên Can địa chi của ngày giờ sẽ có kết quả như thế nào?

Trước hết bàn về Thiên Can của ngày giờ.

Bởi vì 5 ngày là 1 cục, cho nên ngày đầu tiên của mỗi cục nhất định phải có Nhật Can (thiên can của ngày) là Giáp hoặc Kỷ. Giáp là đứng đầu trong trong Thập thiên can, Định Thời cục thì bắt đầu từ Giáp : Giáp – Ất – Bính – Đinh – Mậu là vừa hết 5 ngày là một cục. Cục tiếp theo lại bắt đầu từ Kỷ : Kỷ – Canh – Tân – Nhâm – Quý là lại hết 5 ngày của cục tiếp theo. Tiếp đến lại là 5 ngày tiếp theo, lại bắt đầu từ Giáp… cứ thế tiếp diễn.

Lại bàn về Địa chi của ngày giờ .

Mỗi tiết khí chia làm Tam Nguyên (Thượng, Trung, Hạ nguyên). Địa chi của ngày đầu mỗi tiết khí cũng có quy luật. Trước khi nói về quy luật này, ta hãy nói một chút về vấn đề Mạnh – Trọng – Quý của thập nhị địa chi. Ta đã biết Địa chi có 12 chữ, mà các tháng trong mỗi năm cũng vừa vặn 12 tháng. Cho nên mỗi Địa chi đặt cho 1 tháng gọi là Nguyệt Kiến. Tháng Giêng là Kiến Dần, tháng 2 cho đến tháng 12 là Kiến Mão, Kiến Thìn,…, Kiến Sửu. Nếu như ta đem 12 tháng này phân theo các mùa Xuân Hạ Thu Đông thì 3 tháng được gọi Quý. Dần Mão Thìn là Xuân Quý, Tỵ Ngọ Mùi là Hạ Quý, Thân Dậu Tuất là Thu Quý, Hợi Tí Sửu là Đông Quý. Mỗi quý có ba tháng thì tháng đầu tiên gọi là “Mạnh”, tháng thứ 2 gọi là “Trọng”, tháng thứ 3 gọi là “Quý”. Vì thế mà gọi Dần-Thân-Tỵ-Hợi là Tứ Mạnh, Tí-Ngọ-Mão-Dậu là Tứ Trọng, Thìn-Tuất-Sửu-Mùi là tứ Quý.

Hiện tại đang bàn về Kỳ môn thời gia, mỗi tiết khí có Thượng-Trung-Hạ tam nguyên, Địa chi của ngày đầu tiên mỗi nguyên đều có quy luật. Bất kể là tiết khí nào, Địa chi ngày đầu tiên của Thượng nguyên là một trong Tứ Trọng, không nằm ngoài Tí-Ngọ-Mão-Dậu, Địa chi ngày đầu tiên của Trung Nguyên là một trong trong Tứ Mạnh, không năm ngoài Dần-Thân-Tỵ-Hợi, Địa chi ngày đầu tiên của Hạ Nguyên là một trong Tứ Quý, không nằm ngoài Thìn-Tuất-Sửu-Mùi.

Phần trên đã bàn đến 2 điểm cần phải xem xét tổng hợp. Mỗi tiết khí gồm Thượng-Trung-Hạ nguyên, mà địa chi ngày đầu tiên của mỗi nguyên đều có quy luật. Can chi ngày đầu tiên của mỗi tiết khí Thượng nguyên nếu không là Giáp Tí hoặc Giáp Ngọ thì là Kỷ Mão hoặc Kỷ Dậu. Can chi ngày đầu tiên của mỗi tiết khí Trung nguyên nếu không là Giáp Thân hoặc Giáp Dần thì là Kỷ Tỵ hoặc Ất Hợi. Can chi ngày đầu tiên của mỗi tiết khí Hạ nguyên nếu không là Giáp Tuất hoặc Giáp Thìn thì là Kỷ Sửu hoặc Kỷ Mùi.

Cho nên muốn phải phán đoán ngày cần xem thuộc cục nào, thì phải xem ngày đó thuộc tiết khí nào. Trên phương diện tổng quát mà nói, 12 tiết khí từ Đông Chí đến Mang Chủng là Dương độn, 12 tiết từ Hạ chí đến Đại Tuyết là Âm độn. Trong phạm vi hẹp mà nói, sau khi xác định được một ngày thuộc về Âm độn hay Dương độn, sẽ xem ngày đó thuộc tiết khí nào, trong Nguyên nào, sẽ biết được ngày đó thuộc cục nào.

Mỗi Thượng nguyên của một tiết khí, cũng không phải là bắt đầu từ thời điểm chuyển giao của một ngày nào đó. Ngày đầu tiên của mỗi Thượng nguyên tiết khí, có lúc bắt đầu từ trước mỗi tiết khí, có lúc lại rơi vào sau mỗi tiết khí, chỉ có tình huống cá biệt thì tiết khí mới cùng một ngày. Ngày đầu tiên của Thượng Nguyên tiết khí gọi là “phù đầu”. Ngày đầu tiên của Thượng nguyên tiết khí chạy đến đằng trước tiết khí, tức là Phù đầu đến trước tiết khí, cái này gọi là “Siêu Thần”, ngày đầu của Thượng nguyên Tiết khí mà đến sau tiết khí tức là Phù đầu chưa đến mà tiết khí đến trước, gọi là “Tiếp Khí”. Nếu như ngày đầu của mỗi Thượng Nguyên và Tiết khí đều đến cùng một lúc, tức là Phù đầu với Tiết khí cùng đến, gọi là “Chính Thụ”.

“Siêu thần” tại lúc bắt đầu, Phù đầu chỉ vượt quá tiết khí một hai ngày, dần dần vượt quá ngày càng nhiều, đến khi vượt quá 9 ngày sẽ phải đặt thành “Nhuận”, chính là lặp lại một tiết khí, tức là đem mỗi thiết khí Thượng, Trung, Hạ nguyên nào đó lặp lại một lần. Như bố trí nhuận ở tiết Mang Chủng thì 3 nguyên Thượng-Trung-Hạ của Mang Chủng là cục số 6-3-9 Dương độn. Chính là sau cục số 9 Dương độn của Tiết Mang Chủng tiếp đến ngày sau cùng (Ngày thứ 5 của tiết Mang Chủng Hạ Nguyên) dựa vào thứ tự ngày giờ bày phía dưới, bày lại cục 6-3-9 dương độn, Sau đó mới đến cục 9 Âm độn của Hạ chí Thượng Nguyên. Việc bố trí nhuận trong Tam Nguyên gọi là “Nhuận Kỳ”.

Điều cần thiết phải chú ý ở đây là không phải là tiết khí nào cũng tiến hành bố trị nhuận. Chỉ có 2 tiết khí được bố trí nhuận, hai tiết khí này chính là Mang chủng và Đại Tuyết, nếu như không phải tại 2 tiết khí này thì dù cho vượt quá 10 ngày cũng không bố trí nhuận. Tại sao phải đặt ở hai tiết khí này? Nguyên nhân là vì hai tiết khí này đúng vào trước 2 “Chí” (Đông chí và Hạ Chí). Dương độn bắt đầu từ Đông chí, Âm độn bắt đầu Hạ chí, Tài tại trước hai “chí” này bố trí nhuận, chính là tại trước khi bắt đầu dương độn, âm độn đem Phù đầu chuyển vào được. Làm cho Phù đầu và Tiết khí tiếp cận hết sức mà không đến mức vượt quá nhiều.

Kỳ Môn Độn Giáp căn bản II

0
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP CĂN BẢN
Giới thiệu : TUETVNB

TIẾT THỨ NHẤT : TỔNG QUÁT VỀ ĐỊNH CỤC

1. Khái niệm ban đầu :

Cổ nhân đem 24 giờ trong 1 ngày phân làm 12 canh giờ gồm : Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi canh giờ tương đương với 2 tiếng đồng hồ hiện đại. Kỳ môn thời gia tức là ứng với mỗi canh giờ có 1 cách cục.

Theo lịch pháp của Kỳ Môn, bắt đầu từ tiết Đông Chí của năm Thượng nguyên đến tiết Đông Chí của năm thứ hai Thượng Nguyên là một chu kỳ tuần hoàn. Tổng cộng là 360 ngày, mỗi ngày 12 canh giờ, mà mỗi canh giờ lại có 1 cách cục, vị chi số cục của cả năm sẽ là 12*360 = 4320 (bốn ngàn ba trăm hai mươi) cục.

Nhưng trong 4320 cục này, thực tế mỗi cục lặp lại 4 lần. Lấy Cục thứ nhất dương độn mà nói thì : Đông Chí Thượng Nguyên, Kinh Chập Thượng Nguyên, Thanh Minh Trung Nguyên, Lập Hạ Trung Nguyên đều hoàn toàn giống nhau, đều thuộc Cục thứ nhất Dương độn. Lúc này, trong 4 nguyên tổng cộng là 20 ngày, nhưng đến Kỳ môn thời gia tính toán lại số cục, theo cách tính cứ mỗi Canh giờ có một cách cục sẽ không phải là 12*20 = 240, mà là 12*20/4 = 60 cục (nguyên nhân vì mỗi cục lặp lại 4 lần). Tức là 60 cục, vừa vặn chiếm hết một vòng từ Giáp Tí đến Quý Hợi, tức là một vòng của Thập thiên can phối với Thập nhị địa chi. Cục thứ nhất của Dương độn là như vậy, các cách cục khác cũng giống như thế này, tức cũng đều lặp lại bốn lần. Vì thế mà trong một năm có 360 ngày, 4320 giờ, nguyên nhân như đã giảng, các cách cục đều lặp lại 4 lần cho nên toàn năm chỉ còn có 4320/4 = 1080 cục.

Theo truyền thuyết thì kể rằng do Hoàng đế sai Hoàng Hậu làm ra 1080 cục. Lại theo truyện này, thì đến Khương Thái Công Lã Vọng đã đem 1080 cục này giản hóa thành 72 cục, việc lý giải 72 cục này cũng không khó, nguyên nhân là do tính toán theo 24 tiết khí, mỗi tiết khí 15 ngày, mỗi tiết lại phân làm 3 nguyên Thượng – Trung – Hạ, mỗi nguyên là 5 ngày. Mỗi tiết 3 nguyên, toàn năm 24 tiết khí thì số nguyên trong 1 năm là 24*3 = 72.

Toàn năm là 1080 cách cục, nhưng cũng không phải mỗi một cục đều cần 1 Bàn để biểu thị. Nếu như dùng Hoạt bàn để biểu thị, mỗi Hoạt bàn có thể biểu thị 60 cách cục của các canh giờ từ Giáp Tí đến Quý Hợi. cho nên 1080/60 = 18, dùng 18 hoạt bàn có thể biểu diễn tất cả cách cục của giờ trong cả năm. Tổng 18 cục, chính là DƯƠNG ĐỘN 9 CỤC, ÂM ĐỘN 9 CỤC. (Dương độn cửu cục, âm độn cửu cục)

Tuy nói là Kỳ môn thời gia, cũng không thể không nói đến ngày (Kỳ môn nhật gia). Do Nhật can của Ngày khác, sẽ nảy sinh việc khác nhau về Thời Can. Như ngày Giáp Kỷ, với ngày Ất Canh giờ Tí đều không giống nhau, Ngày Giáp Kỷ thì giờ Tí là Giáp Tí, ngày Ất Canh thì giờ Tí là Bính Tí. Cho nên mỗi Canh giờ sẽ xác định một số cục, phụ thuộc vào Tiết khí và Nhật can. Tức là phải xem mỗi Giờ của mỗi ngày thuộc tiết khí nào, là xem thuộc nguyên nào trong tiết khí này, Thương nguyên, trung nguyên hay hạ nguyên.

2. Kỳ môn định cục :

Theo phương diện tổng quát mà nói thì bắt đầu từ tiết Đông chí đến hết tiết Mang chủng là Dương độn, Từ Hạ chí đến hết tiết Đại tuyết là âm độn. Quan hệ giữa Tiết khí và số thứ tự của cục như sau :

Ca quyết :

Dương độn:

Đông chí, kinh chập nhất thất tứ, tiểu hàn nhị bát ngũ,

Đại hàn, xuân phân tam cửu lục, vũ thủy cửu lục tam,

Thanh minh, lập hạ tứ nhất thất, lập xuân bát ngũ nhị,

Cốc vũ, tiểu mãn ngũ nhị bát, mang chủng lục tam cửu.

Âm độn:

Hạ chí, bạch lộ cửu tam lục, tiểu thử bát nhị ngũ,

Đại thử, thu phân thất nhất tứ, lập thu nhị ngũ bát,

Hàn lộ, lập đông lục cửu tam, xử thử nhất tứ thất,

Sương hàng, tiểu tuyết ngũ bát nhị, đại tuyết tứ thất nhất.

DƯƠNG ĐỘN :

+ Đông Chí, Kinh Chập 1-7-4, Tiểu Hàn 2-8-5
+ Đại Hàn, Xuân Phân 3-9-6, Vũ Thủy 9-6-3
+ Thanh Minh, Lập Hạ 4-1-7, Lập xuân 8-5-2
+ Cốc Vũ, Tiểu Mãn 5-2-8, Mang chủng 6-3-9

ÂM ĐỘN

+Hạ Chí, Bạch Lộ 9-3-6, Tiểu thử 8-2-5
+ Đại Thử, Thu Phân 7-1-4, Lập thu 2-5-8
+ Hàn Lộ, Lập Đông 6-9-3, Xử thử 1-4-7
+ Sương giáng, Tiểu tuyết 5-8-2, Đại tuyết 4-7-1

Tức là tiết Đông Chí, Kinh chập Thượng Nguyên là Cục 1 Dương độn, Trung nguyên là Cục 4 Dương độn, Hạ nguyên là cục 7 Dương độn. Các câu khác cũng tương tự mà suy ra.

Đây là sự phối hợp của Hậu thiên bát quái, lạc thư và 24 tiết khí, đùng để xác định cục số không giống nhau của ngày trong mỗi tiết khí. Trong 24 tiết khí, 2 tiết chí, 2 tiết phân, 4 tiết lập phân biệt ở chính giữa tám cung cũng xác định bằng 8 con số Lạc thư. Đông chí đóng ở Quẻ Khảm ứng với số 1, Lập xuân đóng ở quả Cấn ứng với số 8, Xuân phân đóng ở Quẻ Chấn ứng với số 3, Lập hạ đóng ở Quẻ Ly ứng với số 9, Lập thu đóng ở Quẻ Khôn ứng với số 2, Thu Phân đóng ở Quẻ Đoài ứng với số 7, Lập Đông đóng ở Quẻ Càn ứng với số 6. Đây là 8 cục số của tiết khí thượng nguyên, nó chính là vị trí của số Lạc thư. Tức là cục số 1 Dương độn của tiết Đông chí Thượng Nguyên, Cục số 4 Dương độn của tiết Lập xuân, Cục số 9 của tiết Hạ chí Âm độn Hạ Nguyên. Các chỗ khác cứ thế mà suy ra.

Trong 24 tiết khí thì có 8 tiết khí thuộc Thượng Nguyên. Hai cục số tiếp theo của tiết khí Thượng Nguyên (tức Trung nguyên và Hạ nguyên) đều căn cứ vào số cục của tiết khí Thượng nguyên để xác định theo quy luật Dượng Thuận, Âm Nghịch. Như tiết Đông chí là cục thứ nhất dương độn Thượng Nguyên, tiếp theo tiết Đông chí lần lượt theo thứ tự là Tiểu Hàn, Đại Hàn. Tiết tiểu hàn Thượng nguyên là Cục số 2 Dương độn, Đại hàn Thượng Nguyên là cục số 3 Dương độn. Các tiết khác cũng cứ thế mà suy ra.

Trong phép sắp xếp cục số của Kỳ môn thời gia, 5 ngày là 1 cục, vì sao 5 ngày lại là 1 cục? Nguyên nhân là do mỗi ngày có 12 giờ, đều bắt đầu từ giờ Tí đến giờ Hợi (đây là nói đến giờ tính theo địa chi). Về phần 5 ngày này, ngày nào cũng có địa chi của giờ giống nhau (đều bắt đầu từ Tí và kết thúc ở Hợi), Thiên can cũng sẽ không giống nhau. Như nửa đêm hôm trước là giờ Giáp Tí, nửa đêm hôm nay là giờ Bính Tí và nửa đêm ngày mai là giờ Mậu Tí. Như vậy, mỗi ngày là 12 canh giờ, 5 ngày là 60 canh giờ, vừa vặn một vòng Giáp Tí đến Quý Hợi là một Hoa Giáp. Đến ngày thứ 6, nửa đêm lại bắt đầu từ giờ Giáp Tí, đây là ý nghĩa tại sao 5 ngày lại là một cục số.

Kỳ Môn Độn Giáp căn bản I

0
Kỳ Môn Độn Giáp

GIỚI THIỆU

Độn giáp, hay Kỳ môn đôn giáp là một môn học thuộc Tam Thức (Bao gồm : Thái ất, Lục nhâm, Độn giáp).
Độn giáp là một môn học xếp hàng đàu trong các môn Lý học. Nó lấy gốc từ sự tiêu trưởng của Âm Dương theo thời gian, dựa vào hệ thống Can Chi, tiết khí của lịch pháp để dự đoán sự cát hung về thời điểm, phương hướng, chủ khách lợi-hại v.v… Bản thân nó cũng là một môn làm gốc gác căn bản cho một số môn khác vay mượn như Phong thủy, Tử vi…

Nếu nói cho sâu hơn, thì Kỳ môn Độn giáp đầy đủ phải là Tam Nguyên Kỳ Môn Độn Giáp.
Tam Nguyên : là Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên – một cách chia thời gian theo cổ lịch

Độn Giáp : nghĩa là giấu can Giáp đi, và phép toán để tìm ra Can giáp ấy chính là đường lối hình thành lý thuyết cơ bản của việc an quẻ Kỳ môn.

Kỳ môn : Môn là Bát môn tức là 8 cửa : Hưu-Sinh-Thương-Đỗ-Cảnh-Tử-Kinh-Khai, là phương vị của 8 hướng ứng với 8 quẻ bát quái mà ra.

Học kỳ môn là việc khó, phần vì kiến thức trừu tượng, phần vì tài liệu không có nhiều hơn nữa lại viết rất khó hiểu. Vì thế, tôi đăng lên đây bài viết về các khái niệm cơ bản nhất cùa Kỳ môn. Tham khảo trong Kỳ môn thượng tập của bộ Kỳ Môn Thức – Bột Hải tiên sinh.

Tôi sẽ đăng tải dần dần từng bài một theo thời gian. Nếu hợp sở thích thì các bạn có thể theo dõi dài kỳ. Trước mắt, xin bắt đầu với việc lập quẻ Kỳ môn.

Hiện tại, tôi xin đăng những bài viết cô đọng hết sức để giảm bớt khối lượng bài viết. Nhưng như thế thì sẽ có những phần khó hiểu. Nếu có thắc mắc, xin các bạn lập Topic riêng ở mục trao đổi kiến thức để trao đổi thêm.

Kính.

Kỳ môn độn giáp bí kíp toàn thư – IV

0
Kỳ Môn Độn Giáp


Lệ khởi 9 cục độn dương

Đông Chí, Kinh Trập: 1-7-4 Tiểu Hàn: 2-8-5

Xuân Phân, Đại Hàn: 3-9-6 Lập Xuân: 8-5-2

Cốc Vũ, Tiểu Mãn: 5-2-8 Vũ Thủy: 9-6-3

Thanh Minh, Lập Hạ: 4-1-7 Mang Chủng: 6-3-9

Lệ khởi 9 cục độn âm

Hạ Chí, Bạch Lộ : 9-3-6 Tiểu Thử : 8-2-5

Đại thử, Thu Phân : 7-1-4 Lập Thu : 2-5-8

Hàn Lộ, Lập Đông : 6-9-3 Xử Thử : 1-4-7

Sương Giáng, Tiểu Tuyết : 5-8-2 Đại Tuyết : 4-7-1

Lời người dịch:Những số trên đây là số khởi cục của từng tiết. Số thứ nhất thuộc nguyên trên, số thứ hai thuộc nguyên giữa, số thứ ba thuộc nguyên dưới. Như xem Khóa vào khí Đông chí thì thượng nguyên khởi cục 1, trung nguyên khởi cục 7, hạ nguyên khởi cục 4. nhìn vào bảng trên đây mà nhớ được cũng là việc rất khó.. sau đây xin trình bày một bảng tự vạch lấy, có thể dùng để suy ra được tiết khí nào thuộc cục nào:Nhớ rằng 24 tiết khí giải ra trong một vòng trời khởi từ cung Khảm 1, đến Cấn 8, Chấn 3, Tốn 4, Ly 9, Khôn 2, Đoài 7, Kiền 6 là hết 1 vòng.

Cung Khảm 1 có 3 khí là: Đông chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn thì:Nguyên trên 1 – 2 – 3 – dưới 4 – 5 – 6 – giữa 7 – 8 – 9

Cung Cấn 8 có 3 khí là: Lập Xuân, Vũ thũy, Kinh trập thì:Nguyên trên 8 – 9 – 1 – dưới 2 – 3 – 4 – giữa 5 – 6 – 7

Cung Chấn 3 có 3 khí là:Nguyên trên 3 – 4 – 5 – dưới 6 – 7 – 8 – giữa 9 – 1 – 2

Cung Tốn 4 có 3 khí là: Lập Hạ, Tiểu Mãn, Mang Chủng thì:Nguyên trên 4 – 5 – 6 – dưới 7 – 8 – 9 – giữa 1 – 2 – 3

Cung Ly 9 có 3 khí là: Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại thử thì:Nguyên trên 9 – 8 – 7 – dưới 6 – 5 – 4 – giữa 3 – 2 – 1

Cung Khôn 2 có 3 khí là: Lập thu, Sử Thử, Bạch Lộ thì:Nguyên trên 2 – 1 – 9 – dưới 8 – 7 – 6 – giữa 5 – 3 – 4

Cung Đoài 7 có 3 khí là: Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng thì:Nguyên trên 7 – 6 – 5 – dưới 4 – 3 – 2 – giữa 1 – 9 – 8

Cung Kiền 6 có 3 khí là: lập Đông. Tiểu Tuyết, Đại Tuyết thì:Nguyên trên 6 – 5 – 4 – dưới 3 – 2 – 1 – giữa 9 – 8 – 7

Bảng bầy như trên đây, có nghĩa là mỗi nhóm 3 Khí, mỗi nguyên cũng có 3 số, thì số thứ nhất thuộc Khí thứ nhất; số thứ hai thuộc khí thứ 2; số thứ 3 thuộc khí thử.

Như nhóm thứ nhất 3 khí là Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn thì khí Đông chí nguyên trên khởi cục 1, nguyên giữa khởi cuc 7, nguyên dưới khởi cục 4. Tiết Tiểu hàn nguyên trên khởi cục 2, nguyên dưới khởi cục 5, nguyên giữa khởi cục 8. Khí Đại hàn nguyên trên khởi cục 3, nguyên dưới khởi cục 6, nguyên giữa khởi cục 8. Nhóm trong cung 3 khởi từ cục 3, nhóm trong cung 4 khởi từ cục 4, nhóm trong cung 9 khởi từ cục 9, nhóm trong cung 2 khởi từ cục 2, nhóm trong cung 7 khởi từ cục 7, nhóm trong cung 6 khởi từ cục 6. Từ nhóm 1 đến nhóm 4 thuộc dương, tính xuôi từ 1, 2, 3…Từ nhóm 9 đến 6 thuộc âm, tính ngược từ 9, 8, 7…

Th Tr Hạ Th Tr Hạ Th Tr Hạ
Hạ chí
Tiểu thử
Đại thử
Lập hạ 4 1 7 9 3 6 2 5 8 Lập thu
Tiểu mãn 5 2 8 8 2 5 1 4 7 Xử thử
Mang chủng 6 3 9 7 1 4 9 3 6 Bạch lộ
Xuân phân 3 9 6 4 9 2 7 1 4 Thu phân
Thanh minh 4 1 7 3 5 7 6 9 3 Hàn lộ
Cốc vũ 5 2 8 8 1 6 5 8 2 Sương giáng
Lập xuân 8 5 2 1 7 4 6 9 3 Lập đông
Vũ thuỷ 9 6 3 2 8 5 5 8 2 Tiểu tuyết
Kinh chập 1 7 4 3 9 6 4 7 1 Đại tuyết
Đông chí
Tiểu hàn
Đại hàn

12 Thần ứng nghiệm

– Thiên Ất trong cửa, Quý nhân xe ngựa. Người đi về mau. Trưởng giả mừng vui.

– Đằng xà trong cửa. Nửa đường quay lại. Quái lạ hoảng kinh, Gió mưa rập rình. Nghe kêu chim khách. Có người đuổi nhanh.

– Chu Tước vào cửa. Xa nghe tiếng trống. Vật sống trên đường. Lưu loát văn chương.

– Lục hợp vào cửa. Người ấm áo đẹp. Đường gặp ngựa xe. Thấy trẻ cười khoe.

– Câu Trận vào cửa. Việc làm ngắc ngứ (chậm trễ, đứt đoạn). Đường gặp đánh nhau. Mưu chẳng đến đâu.

– Thanh Long vào cửa. Đường gặp Quan Sứ. Có triệu vui mừng. Áo gấm tưng bừng.

– Thiên Không vào cửa. Dương thêm Âm bước. Vật hỏng trên đường. Cười nói huyênh hoang.

– Bạch Hổ vào cửa. Cửa quan lo sợ. Thấy chết, nghe bi. Binh cách đường di.

– Thái thường vào cửa. Phường tuồng con hát. Rượu thịt thấy đống. Tranh đẹp thần thông.

– Huyền vũ vào cửa. Không là sư sãi, trộm cắp, rơi lăn. Cũng kẻ xin ăn.

– Thái Âm vào cửa. Âm tư, hòa hợp. Cầu ít được nhiều. Âm nhạc cùng theo.

– Thiên Hậu
 vào cửa. Đàn bà biếu vật. Trẻ nhỏ cười hung. Gái về nhà chồng.(Đoạn này nên tham khảo thêm phần 12 tướng của Lục nhâm).

_______________________

Thanh Long phương cát

Nên ngồi ở phương cát, cầu tài, đánh bạc, mưu việc trăm sự đều tốt lành.


Thanh Long

Tuần giáp Tí: Tí Tuần Giáp Tuất : Tuất Tuần Giáp Thân: Thân
Tuần giáp Ngọ: Ngọ Tuần giáp Thìn : Thìn Tuần giáp Dần: Dần

Thiên Mục, tuần:​

Giáp Tí : Đinh Mão. Giáp Tuất : Đinh Sửu Giáp Thân : Đinh Hợi
Giáp Ngọ : Đinh Dậu. Giáp Thìn : Đinh Mùi. Giáp Dần : Đinh Tỵ

Địa Nhĩ, tuần:​

Giáp Tí : Quý Dậu. Giáp Tuất : Quý Mùi. Giáp Thân : Quý Tỵ
Giáp Ngọ : Quý Mão. Giáp Thìn : Quý Sửu Giáp Dần : Quý Hợi

Thiên Môn, (là chi thứ 5 trong tuần thủ) tuần:​

Giáp Tí : Thìn. Giáp Tuất : Dần. Giáp Thân : Tí
Giáp Ngọ : Tuất. Giáp Thìn : Thân. Giáp Dần : Ngọ

Địa hộ (là chi thứ 6 trong tuần thủ), tuần:​

Giáp Tí : Tỵ. Giáp Tuất : Mão. Giáp Thân : Sửu
Giáp Ngọ : Hợi. Giáp Thìn : Dậu. Giáp Dần : Vị

Hoa Cái (là chi cuối cùng trong tuần thủ), tuần:​

Giáp Tí : Phương Dậu. Giáp Tuất : Phương Mùi. Giáp Thân : Phương Tỵ
Giáp Ngọ : Phương Mão. Giáp Thìn : Phương Sửu. Giáp Dần : Phương Hợi

Bài ca 12 ngày giờ hoàng hắc đạo

Tí Ngọ: kiếm ngôi Thân Trâu Dê (Sửu, Mùi): trên Tuất lăn
Dần Thân: đi kiếm Tí Mão Dậu: hỏi thăm Dần.
Thìn Tuất: xem Rồng (Thìn) giáng. Tỵ Hợi: Ngựa (Ngọ) bay thân.

1.Thanh long (Rồng xanh) Hoàng đạo.
2.Minh đường (Thần sáng): Hoàng đạo.
3. Thiên hình (trời đậm): Hắc.
4. Chu tước (sẻ non): Hắc.
5.Kim Quỹ (Tráp vàng): Hoàng.
6.Thiên đức (Đức trời): Hoàng.
7. Bạch hổ (hổ trắng): hắc.
8. Ngọc đường (Thềm ngọc): hoàng.
9. Thiên lao (Lao trời): hắc.
10. Huyền vũ (Rùa xám): hắc.
11. Tư mệnh (Quản mạng): hoàng.
12. Câu trận (móc câu): hắc.

Lời người dịch:
Bản nguyên mục này có như trên thì bạn đọc khó có thể học nổi mà tính ra được. Dịch giả sẽ dẫn giải cho dễ hiểu như sau:
Muốn tìm ngày Hoàng đạo hay Hắc đạo thì cứ trong tháng Tí hay tháng Ngọ đặt Thanh long vào ngày Thân (câu đầu bài ca này là Tí Ngọ kiếm ngôi Thân), rồi đặt tiếp Minh đường vào ngày Dậu, Thiên hình vào ngày Tuất, Chu tước vào ngày Hợi, Kim Quỹ vào ngày Tí, Thiên đức ngày Sửu, Bạch hổ ngày Dần, Ngọc đường ngày Mão, Thiên lao ngày Thìn, Huyền vũ ngày Tỵ, Tư mệnh ngày Ngọ, Câu trận ngày Mùi. Còn về hoàng đạo hay hắc đạo thì dưới bài ca có đề cập đến.Muốn tìm giờ Hoàng đạo hay hắc đạo thì cứ ngày Tí, Ngọ đặt Thanh long vào giờ Thân và chuyển xuôi dần như trên.

…………………………………………

 

Màu sắc và 5 hành của 9 cung, 8 quái, 9 sao, 9 thần.

Khảm : Thiên bồng cung 1 : Nước, Bạch.
Khôn : Thiên nhuế cung 2 : đất, đen.
Chấn : Thiên Xung cung 3 : gỗ, biếc.
Tốn : Thiên Phụ cung 4 : gỗ, xanh.
Thiên Cầm cung 5 : đất, vàng.
Kiền : Thiên Tâm cung 6 : Kim, trắng.
Đoài : Thiên Trụ cung 7 : Kim, đỏ.
Cấn : Thiên Nhậm cung 8 : đất, trắng.
Ly : Thiên Ương cung 9 : lửa, tím.

Trực phù: đất. Đằng xà: lửa. Thái âm: Kim. Lục hợp: gỗ. Câu trận: đất. Bạch hổ: Kim. Chu tước: lửa. Huyền vũ: nước. Cửu địa: đất. Cửu thiên: kim.

Sáu nghi, ba kỳ:
Giáp Tí: Mậu. Giáp Ngọ: Tân Nhật kỳ: Ất
Giáp Tuất: Kỷ. Giáp Thìn: Nhâm Nguyệt kỳ: Bính
Giáp Thân: Canh Giáp Dần: Quý Tinh kỳ: Đinh


Tìm tháng Dần

Giáp Kỷ năm nay tháng Bính Dần, Ất Canh năm ấy Mậu theo chân, Bính Tân mở cửa Canh Dần ngự, ví hỏi Nhâm Đinh vẫn tháng Nhâm. Mậu Quý tháng giêng ai đó nhỉ? Giáp Dần đầu tháng tính lần lần.


Tìm giờ can giờ Tí

Giáp Kỷ hôm nay giờ Giáp Tí
Ất Canh tìm Bính đầu giờ chỉ.
Bính Tân tầm Mậu Tí.
Đinh Nhâm Canh Tí cư.
Mậu Quý khởi từ Nhâm

Nạp Giáp, Mộ

– Kiền nạp Giáp, Nhâm. Khôn nạp Ất, Quý. Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ. Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân. Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh.
– Giáp Thân mộ ở Kiền; Mậu mộ ở Khảm.

________________

Dịch mã, Kiếp sát

Ngày Dần, Ngọ, Tuất: Mã ở Thân, Sát ở Hợi.
Ngày Thân, Tí, Thìn : – Dần, – Tỵ
Ngày Tỵ, Dậu, Sửu : – Hợi, – Dần
Ngày Hợi, Mão, Vị : – Tỵ, – Thân

________________

Tuần không

Giáp Tí tuần này Tuất Hợi không. Gặp tuần Giáp Tuất Thân, Dậu thêm trông.Giáp Thân: Ngọ, Mùi không hai chốn. Giáp Ngọ tìm không: Thìn Tỵ dòng.Ví hỏi Giáp Thìn: Dần Mão trống. Giáp Dần: Tí, Sửu khoảng không mong.

________________

Phương Hỷ thần

Giáp Kỷ tìm Cấn; Ất Canh: Kiền. Bính Tân: Khôn hỏi hẳn bằng yên.Đinh Nhâm Ly tiếng cười ha hả. Mậu Quý Khảm say sưa rượu tốn mèn.

_______________

Lộc ngày

Giáp: Lộc ở Dần. Ất Lộc ở Mão. Bính Mậu Lộc ở Tỵ. Đinh Kỷ Lộc ở Ngọ
Canh: Lộc ở Thân. Tân Lộc ở Dậu. Nhâm Lộc ở Hợi. Quý Lộc ở Tí.


Hợp hóa

Giáp – Kỷ hóa Thổ; Ất – Canh hóa Kim; Bính – Tân hóa Thủy; Đinh – Nhâm hóa Mộc.
Mậu – Qu‎‎‎ý hóa Hỏa; Tí – Sửu hóa Thổ; Dần – Hợi hóa Mộc; Mão – Tuất hóa Kim;
Thìn – Dậu hóa Hỏa; Tỵ – Thân hóa Thủy; Ngọ – Mùi có hợp không hóa.

Phương Quý nhân

Ngày Mậu Canh : Sửu dương QUÝ Mùi âm QUÝ
– Ất : Thân – Tí –
– Kỷ : Tí – Thân –
– Bính : Dậu – Hợi –
– Đinh : Hợi – Dậu –
– Nhâm : Mão – Tỵ –
– QUÝ : Tỵ – Mão –
– Tân : Dần – Ngọ –
– Giáp : Mùi – Sửu –

12 CHI THẦN TƯỚNG ĐỊA BÀN

 

Tỵ NGỌ MÙI THÂN
Thần : Thái Ất Thần : Thắng quang Thần : Tiểu cát Thần: Truyền Tông
Tướng: Đằng xà Tướng: Chu tước Tướng: Thái thường Tướng: Bạch hổ
THÌN DẬU
Thần : Thiên Cương Thần : Tòng khôi
Tướng: Câu trận Tướng: Thái Âm
MÃO TUẤT
Thần : Thái Xung Thần : Hà khôi
Tướng: Lục Hợp Tướng: Thiên không
DẦN SỬU HỢI
Thần :Công tào Thần : Đại cát Thần : Thần hậu Thần : Đăng minh
Tướng: Thanh Long Tướng: Thiên Ất Tướng: Thiên Hậu Tướng : Huyền Vũ

 

Hình đồ độn dương (1) cục – ngày Giáp Kỷ, giờ Giáp Tí
Đỗ/4 Thiên Phụ
Tân / Lục
Lục Hợp
CẢNH/9 Thiên Ương
Ất / Tía
Bạch Hổ
TỬ/2 Thiên Nhuế
Kỷ/Đen
Huyền Vũ
THƯƠNG/3 Thiên Xung
Canh / Biếc
Thái Âm
GIỮA / 5 Thiên Cầm
Nhâm/Vàng
KINH/7 Thiên Trụ
Đinh/ Đỏ
Cửu Địa
SINH/8 Thiên Nhậm
Bính/Trắng
Đằng xà
HƯU/1 Thiên Bồng
Mậu/ Trắng
Trực Phù
KHAI/6 Thiên Tâm
Qu‎í/Trắng
Cửu Thiên

 

Hình đồ độn âm 9 cục – ngày Giáp Kỷ, giờ Giáp T‎í
Đỗ/4 Thiên Phụ
Quí
Đằng xà
CẢNH/9 Thiên Ương
Mậu
Trực phù
TỬ/2 Thiên nhuế
Bính
Cửu Thiên
THƯƠNG/3
Thiên Xung
Đinh
Thái Âm
GIỮA / 5 Thiên Cầm
Nhâm
KINH/7 Thiên Trụ
Canh
Cửu Địa
SINH/8
Thiên Nhậm
Kỷ
Lục Hợp
HƯU/1 Thiên Bồng
Ất
Bạch Hổ
KHAI/6 Thiên Tâm
Tân
Huyền Vũ

Kỳ môn độn giáp bí kíp toàn thư – III

0

KỲ MÔN TỔNG QUYẾT CA

Kỳ Môn Độn Giáp

1/ Âm Dương thuận nghịch diệu nan cùng. Nhị chí hoàn hương nhất cửu cung. Nhược năng liễu đạt âm dương lý. Thiên địa đồ lai nhất chưởng trung.

2/ Tam tài biến hóa tác tam nguyên. Bát quái phân vi bát độn môn. Tinh phù mỗi trục thập can chuyển. Trực sử dương tong Thiên Ất bôn.

3/ Lục Nghi Lục Giáp bản đồng doanh. Tam kỳ tức thị Ất Bính Đinh,. Tam kỳ nhược hợp Khai, Hưu, Sinh. Tiên thị cát môn lợi xuất hành. Vạn sự tòng chi vô bất lợi. Năng tri huyền diệu đắc kỳ tinh.

4/ Trực phù tiền tam Lục Hợp vị. Tiền nhị Thái Ất tự thiết ký. Trực phù hậu nhất vi Cửu Thiên. Hậu nhị chi cung vi Cửu Địa. Đại khả phục nặc, thiên dương binh. Lục Hợp, Thái Âm khả tàng Tỵ.

5/ Cấp tòng thần hề hoãn tòng môn. Tam ngũ phản phục thiên đạo lợi. Dĩ thượng tuy đắc tam kỳ diệu. Bất như cánh đắc Tam kỳ Sứ.

6/ Đắc Sứ do lai vị vi tinh. Ngũ bất ngộ thời tổn quang minh. Dụng sự tu ưu thời khắc nhật. Phản, Phục ngâm cách do bất cát. Yểm tập đào vong tu cách thời. Chiêm kể hành nhân tín khỏi thất.

7/ Đẩu Giáp tam kỳ du Lục Nghi. Thiên Ất hội hợp chủ âm tư. Thảo bộ tu dụng thời hạ khắc. Hành nhân tin túc ngộ Tam kỳ.

8/ Tam kỳ thượng kiến du Lục Nghi. Lục Nghi cánh kiến ngũ dương thì. Kiền hướng Bát môn tam cát vị. Vạn sự khai tam vạn sự nghi.

9/ Ngũ dương tại tiền, ngũ âm hậu. Chủ khách tu tri hữu thịnh suy. Âm hậu ngũ can quân tu trí. Lục Nghi gia trước cánh vô lợi. Lục Nghi hốt nhiên gia tam cung. Tiên nghi kích hình tiên tu ký.

10/ Lục Nghi kích hình, Tam kỳ mộ. Thủ thời cử động khả đạn cụ. Thái Bạch ngập Huỳnh tặc tức lai. Huỳnh nhập Thái Bạch tặc tức khứ.

11/ Bính vi Bột hề, Canh vi cách. Cách tắc bất thông Bột loạn nghịch. Canh gia phục can vi phục can. Nhật gia canh phi can cách.

12/ Canh gia trực phù Thiên Ất Phục. Trực phù gia Canh Thiên Ất phi. Gia Kỷ vi Hình độn thượng cách. Gia Quý lộ trung kiến Đại cách. Gia Nhâm chi thời vi tiểu cách. Hựu hiềm Niên Nguyệt Nhật thời phùng. Đương thử chi thời tối bất cát. Cử động hành sự giai bất nghi.

13/ Bính gia giáp hề Điểu điệt huyệt. Giáp gia Bính hề Long phản thủ. Tân gia Ất hề Hổ xương cuồng. Ất gia tân hề Long đào tẩu. Đinh gia Quý hề Tước đầu giang. Quý gia Đinh hề xà yêu kiều. Phù gia Lục Đinh vi Tướng vị. Thời gia Lục Đinh vi Thủ tinh. Bính Hợp Mậu khai vi Thiên Độn. Địa độn Ất, Hợp nhập Khai cung. Hưu thừa Đinh, Đinh, Ất, Thái Âm: Nhân Thiên cương tứ trương thời gia Quý.

14/ Bồng gia Ương, thượng vi Phản ngâm. Phục ngâm chi thời Bồng gia Bồng. Cát tú phùng cái sự bất cát. Hung tú phùng chi sự dữ hung. Thiên phụ, Xung, Nhậm, Cầm, Tâm: cát. Thiên Bồng, Thiên Nhuế, Ương, Trụ: hung. Âm tú: Thiên Tâm, Ương, Trụ, Nhuế. Dương tinh: Xung, Phụ, Cầm, Nhậm, Bồng.

15/ Thiên cương tứ trương vô tẩu lộ. Âm Dương thuận nghịch diệu vô cùng. Tiết khí suy vi thời hậu định. Nhị chí hoàn hương nhất cửu cung. Tam nguyên siêu tiếp du Lục Nghi. Bát quái thu lưu biến cửu cung. Nhược năng liễu đạt âm dương lý. Thiên địa đồ lai nhất chưởng trung.


Dịch nghĩa

1/ Âm Dương xuôi ngược diệu khôn cùng. Hai Chí xoay dần trải 9 cung. Nếu hiểu âm dương cùng lý lẽ. Thu cả đất trời trong bàn tay.

2/ Tam tài biến hóa dựng 3 Nguyên. Tám quẻ chia ra tám Độn truyền. Tinh Phù đều dõi mười can chuyển. Trực sử theo vào Thiên Ất môn.

3/ Sáu nghi sáu Giáp cũng cùng danh. Ba kỳ tức gọi Ất, Bính, Đinh. Ất, Bính, Đinh hợp Khai, Hưu, Sinh. Ra đi nhờ cửa cát may lành. Theo đây muôn việc đều hay cả. Biết phép diệu huyền, biết được linh.

4/ Trước Phù, Lục Hợp cách ba ngôi. Sao Thái Âm kia cách có hai. Tìm Cửu Thiên thì sau một vị. Sau hai, Cửu Địa đã an bài. Thiên dương binh lục, địa tàng phục. Âm, Hợp là nơi ẩn nép tài.

5/ Khi cần gấp dùng thần, không gấp thì dùng môn. Ba, Năm phản phục đạo trời còn. Cách trên ví gặp Ba Kỳ tới. Cũng chẳng bằng Kỳ Sử có hơn.

6/ Đắc sử tuy vậy vẫn chưa tinh. Ngũ bất ngộ thời cũng bớt minh. Dùng việc không nên giờ khắc Nhật. Phản, Phục ngâm kia cũng không cát. Giấu che trốn lánh dùng cách giờ. Xem người ta vắng tin đã mất.

7/ Khóa thấy Tam Kỳ du Lục Nghi. Hội cùng Thiên Ất chủ âu tư. Đánh, bắt nên dùng thời dưới khắc. Người đi muốn biết hỏi Tam Kỳ.

8/ Tam kỳ trên thấy tượng du Nghi. Giờ lại năm dương hẳn ít khi. Thêm tám Môn đều sa đất cát. Muôn công ngàn việc ít đâu bì.

9/ Năm Dương đứng trước, năm Âm sau. Chủ khách chia ngôi có mạnh sầu. Gặp dùng năm can âm phải liệu. Sáu Nghi bước phải lợi gì đâu. Sáu Nghi chợt tới ba cung ấy. Là kích hình ấy nhớ thuộc làu.

10/ Sáu Nghi kích hình Tam kỳ mộ, gặp những giờ này thêm hoảng sợ. Thái Bạch nhập Huỳnh giặc đến kia. Huỳnh vào Thái bạch giặc lui đó.

11/ Bính là Bột mà Canh là cách. Gặp cách không thông, Bột loạn nghịch. Canh úp Can ngày là Phục can. Can ngày trên Canh Phi can cách.

12/ Canh trên Trực phù Thiên Ất phục. Trực phù trên Canh Thiên Ất phi. Canh trên Sáu Kỷ là Hình cách. Cách đại là Canh trên Quý ghi. Trên Nhâm là Cách tiểu còn đó. Năm tháng ngày giờ gặp cũng nguy. Gặp những giờ trên thì thật xấu. Cất quân khởi việc chẳng ra gì.

13/ Bính trên Giáp là Điểu điệt huyệt. Giáp trên Bính là Long phản thủ. Tân trên Ất là Hổ xương cuồng. Ất trên Tân là Long đào tẩu. Đinh trên Quý là Tước đầu giang. Quý trên Đinh là Xà yêu kiều. Phù trên Sáu Đinh là Tướng Vị. Thời trên Sáu Đinh là Thủ tinh. Bính Hợp Mậu Khai là Thiên độn. Ất, Hợp ngộ Khai là Địa độn bầy. Hưu, Âm, Đinh, Ất: Nhân độn đó. Thiên cương Tứ trương giờ trên Quý.

14/ Bồng trên Ương gọi khóa Phản ngâm. Bồng trên Bồng gọi phục ngâm. Sao cát gặp đấy sự chẳng cát. Sao hung mà gặp việc, việc hung thêm. Thiên phụ, Xung, Nhậm, Cầm, Tâm: tốt. Nhuế, Bồng, Ương, Trụ tới là hung. Sao âm: Ương, Trụ, Nhuế Tâm đó. Sao dương: Xung, Phụ, Cầm, Nhậm, Bồng.

15/ Lưới trời bốn bức không đường thoát. Âm Dương xuôi ngược diệu nan cùng. Tiết khí rồi lần thời hậu định. Hai Chí xoay vần một chín cung. Ba Nguyên vượt nối trên Nghi nối. Tám quẻ xoay quanh khắp chín cung. Ví rằng hiểu được âm dương lý. Bàn tay thu cả đất trời trong.

Kỳ môn độn giáp bí kíp toàn thư – II

0
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN

Quyển 1

Yên ba điếu tấu ca

Kỳ Môn Độn Giáp

1/ Âm Dương thuận nghịch diệu nan cùng. Nhị chí hoàn hương nhất cửu cung. Diệu năng liễu đạt âm dương lý, thiên địa đồ lai nhất chưởng trung.

2/ Hiên Viên Hoàng đế chiếm Vưu. Trác Lộc kinh kim khổ vị hưu. Ngẫu mộng thiên Thần thọ Phù quyết. Đăng đàn chí tế cấn kiền tu.

3/ Suy Thần long phụ Đồ xuất Lạc thủy Thái phương hàm thư bích vân lý. Nhân mệnh Phong Hậu diễn thành văn. Độn Giáp Kỳ môn tòng thử thủy.

4/ Nhất thiên bát thập đương thời cho. Thái công trắc vi thất thập nhị. Đãi ư Hán đại trương tử Phòng. Nhất thập bát cục vị tinh nghệ.

5/ Tiên tụ chưởng thượng bày cửu cung. Tung hoành thập ngũ đồ kỳ trung. Thứ tương bát quái phân bát tiết. Nhất khí thông tam vi chính tông.

6/ Âm Dương nhị độn phân thuận nghịch. Nhất khí tam nguyên nhân mạc trắc.Ngũ nhật đồ lai hoán nhất nguyên. Tiếp khí siêu thần vi chuẩn tắc.

7/ Nhận thủ cửu cung vi cửu tịnh. Bát môn hựu trục cửu cung hành. Cửu cung phùng Giáp vi Trực phù. Bát môn trực sứ tự phân minh.

8/ Phù thượng chi môn vi Trực sứ. Thập thời nhất dịch kham bàng cứ. Trực phù thường di gia thời can. Trực sứ thuận nghịch Độn trung khứ.

9/ Lục Giáp nguyên hiệu Lục Nghi danh. Tam kỳ tức thị Ất, Bính, Đinh. Dương độn: thuận Nghi, Kỳ nghịch bố. Âm độn: nghịch Nghi, Kỳ thuận hành.

10/ Cát môn ngẫu nhĩ hợp Tam kỳ. Vạn sự khai tam vạn sự nghi.Cánh hợp tong bang gia kiểm điểm. Dư cung bất khả hữu vi tì.

11/ Tam kỳ đắc sử thành kham sứ. Lục Giáp ngộ chi phi tiêu bố. Ất phùng Khuyển mã; Bính: thử Hầu; Lục đinh: Ngọc nữ phùng Long Hổ.

12/ Hựu hữu tam kỳ du Lục Nghi. Hiệu vi Ngọc nữ thủ môn phi. Nhược tác âm tư hòa hợp sự. Tòng quân đàn hướng thử trung suy.

13/ Thiên tam môn hề địa tứ hộ. Vân quân thử pháp như hà xứ. Thái xung , Tiểu cát dữ Tòng Khôi.Thử thị thiên môn tu xuất lộ. Địa hộ trừ, Nguy, Định dữ khai. Cử sự giai tòng thử trung khứ.

14/ Lục Hợp, Thái Âm, Thai thường quân.Tam thời nguyên thị Địa tư môn. Cánh đắc Kỳ môn tường chiếu diệu. Xuất môn bách sự tổng hân hân.

15/ Thiên xung, Thiên mã tối vi quý. Thốt nhiên hữu nạn nghi đào Tỵ. Đãn năng thừa ngự thiên mã hành. Kiếm kích như sơn bất túc úy.

16/ Tam vi sinh khí, ngũ vi tử. Thắng tại tam hề suy tại ngũ. Năng thức du tam Tỵ ngũ thì. Tạo hóa chân cơ tu ký thử.

17/ Tựu trung Phục ngâm tối vi hung. Thiên Bồng gia trước địa Thiên Bồng. Thiên Bồng nhược đảo Thiên Ương thượng. Tu tri tức thị Phản ngâm cung. Bát môn Phản phục giai như thử. Sinh tại sinh hề, Tử tại tử. Tựu thị hung tú đắc Kỳ Môn. Vạn sự giai hung bất kham sứ.

18/ Lục Nghi kích hình hà thái hung. Giáp Tí Trực phù sầu hướng Đông. Tuất phùng vị thượng, Thân hình Hổ. Dần Tỵ, Thìn Thìn Ngọ hình Ngọ.

19/ Tam Kỳ nhập Mộ nghi tế suy. Giáp nhật khá kham nhập Khôn cung. Bính Kỳ thuộc hỏa, hỏa mộ Tuất. Thử thời chư sự bất nghi vi.Cánh hiềm Ất kỳ lai lâm lục. Đinh kỳ lâm bát diệc đồng thì.

20/ Hựu hữu thời can nhập Mộ trung. Khóa trung thời hạ kị tương phùng. Ất vị. Nhâm Thìn, dữ Bính tuất. Tân Sửu đồ lai diệc đồng hưng.

21/ Ngũ bất ngộ thời Long bất tinh. Hựu vi Nhật nguyệt tổn quang minh. Thời can lai khắc Nhật can thượng. Giáp nhật tu tri thời kị canh.

22/ Kỳ dữ Môn hộ cộng Thái Âm. Tam ban nan đắc cộng gia lâm. Nhược hoàn đắc nhị diệc vi cát. Cử thác hành tàng tất toại tâm. Cánh đắc trực phù trực sử lợi. Binh gia dụng sự tối vi quý. Thường tòng thử địa kích kỳ xung. Bách chiến bách thắng quân tu ký.

23/ Thiên Ất chi thần sở tại cung. Đại tướng nghi cư kích đối xung. Giả kim Trực phù cư Ly vị. Thiên ương tọa thủ kích Thiên Bồng.

24/ Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu: dương thì. Thần nhân thiên thượng báo quân tri. Tọa kích tu bằng thiên thượng kỳ. Âm thì địa hạ diệc như thử.

25/ Nhược kiến tam kỳ tại ngũ dương. Thiên nghi vi khách thị cao cường. Hốt nhiên phùng trước ngũ âm thượng. Hựu nghi vi chủ hảo suy tường.

26/ Trực phù tiền Tam Lục Hợp vị. Thái Âm chi thần tại tiền nhị. Hậu nhất cung trung vi Cửu thiên. Hậu nhị chi thần vi Cửu địa.

27/ Cửu Thiên chi thượng hảo dương binh. Cửu địa tiềm tàng khả lập doanh. Phục binh dẫn hướng Thái Âm vị. Nhược phùng Lục hợp lợi đào hình.

28/ Thiên, Địa, Nhân phân tam độn danh. Thiên độn Nguyệt tinh Hoa cái lâm. Địa độn Nhật tinh tử vi tế. Nhân độn dương tri thị Thái Âm.

29/ Sinh môn Lục Bính hợp Lục Đinh. Thủ vi Thiên độn tự phân minh. Khai môn Ất Kỷ hướng Kiêm tinh. Địa độn chinh nghi nhân viên tẩu.

30/ Hưu môn Lục Đinh cộng Thái Âm. Dục cầu nhân độn vô quá thử. Yếu tri tam độn hà sở nghi. Tàng hình độn tích tử vi mỹ.

31/ Canh vi Thái Bạch. Bính vi Huỳnh. Canh Bính tương gia thùy hội đắc. Lục Canh gia Bính Bạch nhập huỳnh. Lục Bính gia Canh Huỳnh nhập Bạch. Bạch nhập Huỳnh hề tặc các lai. Huỳnh nhập Bạch hề tặc tức khứ.

32/ Bính vi Bột hề canh vi cách. Cách tắc bất thông Bột loạn nghịch. Bính gia Thiên Ất vi Phục Bột. Thiên Ất gia Bính vi Phi Bột. Canh gia Nhật Can vi Phục Can. Nhật can gia canh phi can cách. Gia nhất cung hề chiên vu dã. Đồng nhất cung hề chiên ư quốc.

33/ Canh gia trực phù Thiên Ất phục. Trực phù gia Canh Thiên Ất Phi. Canh gia Quý hề vi đại cách. Gia Kỷ vi Hình tối bất nghi;. Gia Nhâm chi thời vi Tiểu cách. Hựu hiềm Niên Nguyệt Nhật thời phùng.

34/ Cánh hữu nhất ban Kỳ cách giả. Lục canh cẩn vật gia tam Kỳ. Thử thời nhược dã hành binh khứ. Sất mã chích luân vô phản kỳ.

35/ Lục Quý gia Đinh xà yêu kiều. Lục Đinh gia Quý, Tước đầu giang. Lục Ất gia Tân: Long đào tẩu. Lục Tân gia Ất: Hổ xướng cuồng. Thính quan tứ giả thị hung thần. Bách sự phùng chi mạc thác thủ.

36/ Bính gia giáp hề Điểu điệt huyệt. Giáp gia Bính hề Long phản thủ. Chỉ thử nhị giả thị cát thần. Vi sự như ý thập bát cửu.

37/ Bát môn nhược ngộ Khai, Hưu, Sinh. Chư sư phùng chi giai xúng tình. Thương nghi bộ liệp chung tu hoạch. Dô bảo yêu già cập ấn hình. Cảnh thượng đầu thư tịnh phá trận. Hình năng cầm tụng hữu thanh danh. Nhược vấn Tử môn hà sở chủ. Chỉ nghi điêu tử dữ hành hình.

38/ Bồng, Nhậm, Xung, Phụ Cầm: dương tinh. Ương, Nhuế, Trụ, Tâm: âm tú danh. Phụ, Cầm Tâm tinh vi thượng cát. Xung, Nhậm tiểu cát vị toàn hanh.Đại hung Bồng, Nhuế bất kham hủ. Tiểu hung Ương, Trụ bất tinh ninh. Tiểu hung vô khí biến vi cát. Đại hung vô khí phước bình bình. Cát tú cánh năng phùng vượng tướng. Vạn cử vạn toàn công tất thành. Nhược ngộ hưu tù tinh phế, một. Khuyến quân bất tất tẩu tiến trình.

39/ Yêu thúc cửu tinh phối ngũ hành.Tu cầu bát quái khảo Hy kinh. Khảm-Bồng: thủy tinh. Ly_Ương: hỏa.Trung cung Khôn cấn thổ vi doanh.Kiền Đoài vi Kim. Chấn Tốn Mộc. Vượng tướng hưu tù khán khinh.

40/ Dữ ngã đồng hành tức vi ngã. Ngã sinh vi nguyệt thành vi Vượng. Phế ư Phụ Mẫu, hưu vi tài. Tử vi quỷ quan hề chân bất vong. Giả kim Thủy tú hiệu Thiên Bồng. Tướng tại sơ Đông dữ trọng Đông. Vượng ư chính, nhị; hưu: tứ, ngũ. Kỳ dư phỏng thử than nghiên cùng.

41/ Cấp tòng thần hề hoãn tòng môn. Tam Ngũ phản phục thiên đạo hanh. Thập can gia phù nhược gia thác. Nhập mộ Hưu tù các sự nguy. Đẩu tinh vi Sứ tối vi cát. Khởi cung thiên Ất dụng vô di. Thiên mục vi khách Địa nhĩ chủ. Lục giáp suy hợp vô sai lý. Khuyến quân mạc thất thử huyền cơ. Đồng triệt cửu tinh phù minh chủ.

42/ Cung chế Kỳ môn tắc tất bách. Môn chế kỳ cung thị bách hung. Thiên cương tứ trượng vô tẩu lộ. Nhất nhị cương đi hữu lộ tung. Tam chí tử cung nan hối Tỵ. Bát cửu cao trương nhậm Tây Đông.

43/ Tiết khí suy di thời hậu định. Âm Dương thuận nghịch yếu tinh thông. Tam nguyên tích số thành lục kỳ. Thiên địa vị thành hữu nhất lý. Thỉnh quan ca lý chân diệu quyết. Phi thị chân hiền mạc tương dữ.


Dịch nghĩa
Bài caÔng già buông câu trên khói sóng.

1/ Âm Dương xuôi ngược diệu khôn cùng. Hai Chí (Đông chí và Hạ Chí) xoay vần trải chín cung. Nếu hiểu âm dương, cùng lý lẽ. Thu cả đất trời trong bàn tay.

2/ Hiên Viên Hoàng đế đánh Suy Vưu. Trác Lộc bao năm khổ đã nhiều. Mộng được thần trời truyền phép lạ. Dựng đàn cúng tế tạ ơn cao.

3/ Sông Lạc Rồng thiêng đội Đồ lên. Lưng Trời chim Phượng ngậm thơ truyền. Nhâm sai Phong Hậu thành văn tập. Độn giáp Kỳ môn tụ khởi tiền.

4/ Một ngàn tám chục số sơ khai. Chủ tướng dọn thành bảy hai cục. Triều Hán Trương Lương thêm gọn ghẽ. Gom trong mười tám cục an bài.

5/ Dàn trước trên tay đủ chín cung. Mười lăm ngang dọc số lưu thông (1). Rồi sau tám quái chia thời khí (2). Mỗi khí ba Nguyên chuyển chẳng cùng.

6/ Âm Dương hai độn chia xuôi ngược (4). Mỗi khí ba Nguyên là mực thước (3). Cứ hết năm ngày đổi một Nguyên. Tiếp khí Siêu thần, thông mới được.

7/ Chín sao giải khắp chín cung vòng. Tám cửa bao quanh với chín cung (6). Trực Phù là chín cung phùng Giáp (6). Trực sử truyền theo tám cửa cùng (7).

8/ Môn có Phù trên là Trực sử (8). Mười giờ một đổi là bằng cứ. Trực phù lần bước theo can giờ (9). Trực sử ngược xuôi theo độn khứ (10).

9/ Đều trong sáu Giáp gọi là Nghi (11). Ất Bính Đinh kia là ba Kỳ (12). Dương độn Nghi xuôi Kỳ chuyển ngược. Kỳ xuôi Nghi ngược Độn âm ghi.

10/ Cửa cát may sao hợp với Kỳ (13). Làm gì cũng tốt chẳng còn nghi. Còn hợp theo bên nên xét nét. Các cung không được vết đen gì.

11/ Tam Kỳ đắc sử này là khó (14). Ví mà gặp được may chẳng nhỏ. Ất chăn Chó Ngựa. Bính: Chuột, Hầu. Long Hổ người tiên Đinh cưỡi cổ.

12/ Còn có ba Kỳ chồng sáu Nghi (15). Gọi là nàng Ngọc giữ môn phi (cánh cửa). Những việc âm tư hòa hợp đó. Khuyên ghi tìm đến để mà suy.

13/ Trời có ba Môn. Đất bốn Hộ (16). Hỏi ai phép ấy là đâu đó. Thái xung, Tiểu cát với Tòng Khôi. Đó gọi Thiên môn nên xuất lộ. Địa hộ Trừ, Nguy, Định với Khai. Mọi việc theo đây thì chẳng khó.
14/ Thái Âm, Lục Hợp, Thái thường kia. Là Địa tư môn phép đã chia (17). Được cả Kỳ Môn mà chiếu đến. Ra ngoài muôn việc ý lòng ưa.

15/ Thiên xung Thiên Mã đều là quý. Đột nhiên gặp nạn phải trốn tránh. Ruổi rong Thiên Mã khắp nơi nơi. Gươm giáo như rừng đâu có sợ.

16/ Ba là sinh khí năm là tử. Thắng ở tam thì suy ở ngũ. Biết được vào tam tránh ngũ kia. Huyền diệu cơ trời nên nhớ giữ.

17/ Phục ngâm xét thấy thật là hung (18). Là lúc trời Bồng đất cũng Bồng. Bồng úp trên Ương hung chẳng kém. Phản ngâm tráo trở việc coi chừng. Tám Môn phản phục đều như thế. Sinh đến trên Sinh, Tử đến Tử. Ví được Kỳ Môn đến chiếu cho. Cũng không may mắn trong muôn sự.

18/ Lục Nghi kích hình thật rất hung (19). Giáp Tí Trực phù buồn tới Đông. Tuất gờm trên Mùi, Thân gờm Hổ. Dần Tỵ. Thìn Thìn. Ngọ Ngọ trông.

19/ Ba Kỳ vào Mộ phải nên suy. Ngày Giáp vào Khôn buồn những khi. Bính Kỳ thuộc Hỏa, Hỏa mộ Tuất. Thời này mọi việc có hay gì. Cũng hiềm Kỳ Ất vào cung 6 (kiền). Kỳ Đinh vào tám (cấn) cũng cùng thì.

20/ Còn có can giờ vào Mộ cung (20). Những khi mở khóa kị tương phùng. Ất Mùi, Nhâm Thìn và Bính Tuất. Cùng là Tân Sửu cũng cùng hung.

21/ Ngũ bất ngộ Thời Rồng u ám (21). Là cách trời trăng đà mất sáng. Can giờ đi đến khắc Can ngày. Như ngày Giáp bị giờ Canh trảm.

22/ Kỳ với Môn, Âm hội một cung. Cả ba khó gặp hội nhau cùng. Được hai hội cũng cho là tốt. Mọi việc làm gì cũng phải xong. Lại được Trực Phù Trực Sử gặp. Làm tướng giờ này là quý nhất. Từ đó xông lên kích đối xung. Đánh trăm trận được trăm đều thật.

23/ Thiên Ất giờ này ở tại cung (22). Làm tướng từ đây khởi tấn công. Ví thử Trực phù trên Ly vị. Thiên Ương nơi tọa đánh sang Bồng.

24/ Giáp Ất Bính Đinh Mậu thuộc Dương. Tại trời thần ngự báo muôn phương. Ra quân dựa vị Kỳ trời đó. Suy đến năm Âm ngược lại đường (23).

25/ Ví Tam Kỳ thấy gặp năm (5 giờ dương) Dương. Đổi ngôi làm khách mới cao cường. Ví gặp năm Âm thì trái lại. Yên ngôi làm chủ phải nên tường.

26/ Trước Phù Lục Hợp cách ba ngôi. Sao Thái Âm kia cách có hai. Tìm thấy Cửu thiên sau một vị. Sau hai Cửu địa tự an bài.

27/ Cửu thiên phương ấy lợi dương binh. Cửu địa bên này lợi đóng doanh. Thái Âm phương ấy nơi mai phục. Tìm phương Lục Hợp trốn yên lành.

28/ Thiên Địa Nhân chia ba khóa độn. Thiên độn tinh nguyệt, Hoa cái đến. Địa độn tinh trời dưới Tử Vi. Nhân độn cho hay Thái Âm chọn.

29/ Sáu Bính trên Đinh Sinh trấn đóng (24). Đó là Thiên độn trời lồng lộng. Khai môn Ất ngự Kỷ là cung. Địa độn nơi đây nên chớ động.

30/ Hưu Môn Kỳ Đinh với Thái Âm. Đây là Nhân độn nên coi trọng. Biết chăng ba độn gặp làm chi. Giấu giấu tiềm tàng khi phải dùng.

31/ Canh là Thái Bạch. Bính: Huỳnh Hoặc. Canh Bính trên nhau ai hội được. Sáu Canh trên Bính Bạch vào Huỳnh. Sáu Bính trên Canh Huỳnh Nhập Bạch. Bạch nhập Huỳnh là giặc đến kia. Huỳnh nhập Bạch là giặc đi sạch.

32/ Bính là Bột mà Canh là cách. Gặp cách không thông. Bột loạn nghịch. Bính trên Thiên Ất. Phục Bột đây. Thiên Ất trên Bính: Phi Bột kích. Canh trên Nhật can là Phục can. Nhật can trên Canh: Phi can cách. Trên cung một là chiến giữa đồng. Cùng một cung là chiến khắp nước.

33/ Canh trên Trực phù , Ất Phục đây. Trực phù trên Canh thiên Ất bay (Thiên Ất phi cung). Canh trên sáu Quý là cách Đại. Trên Kỷ là Hình cách chẳng may. Trên Nhâm giờ ấy là cách Tiểu. Hiềm trên năm tháng với giờ ngày.

34/ Kỳ cách là bàn cách xấu này. Canh trên kỳ ấy khốn nào tầy. Gặp giờ ấy về đưa quân chảy. Mảnh giáp không còn một mảy may.

35/ Sáu Quý trên Đinh: Xà yêu kiều. Sáu Đinh trên Quý: Tước đầu giang. Sáu Ất trên Tân: Long đào tẩu. Sáu Tân trên Ất : Hổ xướng cuồng. Biết chăng bốn cách ấy là hung. Trăm việc gặp đây đừng cất nhắc.

36/ Bính trên Giáp là Điểu điệt huyệt. Giáp trên Bính là Long phản thủ. Chỉ hai cách ấy là cát thần. Việc làm như ý mười phần được tám chín.

37/ Tám Môn ví gặp Khai, Hưu, Sinh. Mọi việc còn chi chẳng xứng tình. Cửa Thương săn đuổi nơi thành việc. Cửa Đỗ cầu che với ẩn mình. Cửa Cảnh dâng thơ cùng phá trận. Cửa Kinh bắt, kiện có thanh danh. Còn như cửa Tử nên chi nhỉ? Tang viếng, chôn cất với giết hình.

38/ Bồng, Nhậm, Xung, Phụ, Cầm: sao dương. Sao âm: Tâm, Trụ, Nhuế cùng Ương. Phụ, Cầm, Tâm ba sao thượng cát. Xung, Nhậm: tiểu cát, tốt thường thường. Rất hung: Bồng, Nhuế không nên dụng. Hung vừa: Ương, Trụ, cũng đừng vương. Hung vừa vô khí lại thành cát. Rất hung vô khí cũng bình thường. Sao cát cần nên phùng vượng tướng. Mọi việc đều nên công tất thành. Ví như Hưu Tù và Phế, Một. Khuyên ai chớ có tiến lên đường.

39/ Cần biết chín tinh phối ngũ hành. Phải cần tám quái khảo Hy kinh. Khảm – Bồng là Thủy. Ly – Ương: Hỏa. Cung giữa, Cấn, Khôn thuộc Thổ doanh. Kiền Đoài thuộc Kim. Chấn Tốn: Mộc. Vượng tướng hưu tù xét trọng khinh.

40/ Sóng bước cùng ta tức hạng ta. Ta sinh là Vượng tháng ngày qua. Phế là Phụ mẫu. Hưu Tài đó. Tù: quỷ quan đây chính liệu mà. Ví như sao Thủy gọi Thiên Bồng. Tướng ở sơ Đông với trọng Đông. Vượng ở giêng, hai. Hưu ở: tư năm. Ngoài ra phỏng thế luận cho cùng.

41/ Việc gấp dùng thần, hoãn kiếm Môn. Ba, năm tráo trở đạo trời còn. Mười Can trên Phù mà thác lạc. Nhập mộ hưu tù các việc đều nguy. Đẩu tinh lâm Sử là quý tinh. Khởi từ Thiên Ất dụng cho minh. Thiên Mục là khách. Địa nhĩ là chủ. Sáu Giáp suy hợp không sai tình. Khuyên ai đừng lãng máy huyền cơ. Thấu suốt chín tinh phò nghiệp vua.

42/ Cung khắc lên Môn không gọi bách (ép). Môn khắc cung là Bách chẳng ngờ. Vó trời bốn bức thoát làm sao. Một hai bức thấp có đường đào (trốn). Ba đến bốn cung Khôn trở lại. Tám chín trượng cao, ngó trước sau.

43/ Tiết khí xoay vần phân định thời. Âm Dương xuôi ngược cần thông coi. Ba nguyên số tích thành sáu Kỷ. Trời đất chưa thành lý đã soi. Diệu quyết ca này nên nhớ kỹ. Chỉ truyền người xứng đáng mà thôi.


LỜI NGƯỜI DỊCH

Bài ca “ Yên Ba điếu tấu” này thâu tóm gần hết bộ Kỳ Môn Độn Giáp. Tôi nhận thấy thật là một bài quan trọng nên phiên âm và phiên dịch luôn. Dưới đây xin dẫn giải thêm những uẩn khúc khó mà tôi hiểu được.

(1) Hai chí tức Đông chí và Hạ chí.

9 cung dàn theo Lạc thư như sau:

4​
9​
2​
3​
5​
7​
8​
1​
6

9 cung này các số ngang, dọc, chéo đều cộng thành 15.

(2) Tám quái dàn như sau:

Tốn​
Ly​
Khôn​
Chấn​
Đoài​
Cấn​
Khảm​
Kiền

(3) Trung bình mỗi năm có 12 tháng. Mỗi tháng gồm 2 khí. Mỗi khí 15 ngày. Mỗi khí chia ra 3 Nguyên là Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên. Mỗi nguyên 5 ngày. Mỗi khí là một hơi thở của vũ trụ.

(4) Độn dương bày xuôi trải qua các cung 1-2-3-4-5-6-7-8-9. Độn âm bày ngược các cung 9-8-7-6-5-4-3-2-1. Từ Đông chí đến hết Mang chủng mặt trời đi hướng lên, thuộc phần Dương, tính độn Dương. Từ Hạ Chí đến hết Đại Tuyết, vành Hoàng Đạo chênh hướng xuống, thuộc phần Âm, tính độn Âm.

(5) Chín sao, chín cung và tám môn hợp nhau như sau:
– Sao Thiên Bồng ở cung 1 thuộc cửa Hưu
– Thiên Nhuế – 2 – Tử
– Thiên Xung – 3 – Thương
– Thiên Phụ – 4 – Đỗ
– Thiên Cầm – 5 gởi ở cửa Tử
– Thiên Tâm – 6 thuộc cửa Khai
– Thiên Trụ – 7 – Kinh
– Thiên Nhậm – 8 – Sinh
– Thiên Ương – 9 – Cảnh

(6) Tinh gặp Giáp là Trực phù. Như độn dương cục 1, ngày Giáp, giờ Bính Dần thì Thiên Bồng Lục Mậu Giáp Tí là Trực Phù. Bính Dần thuộc con nhà Giáp Tí.

(7) Môn mà gặp Giáp là Trực Sử. Như khóa trên thì cửa Hưu là Trực sử vì Mậu Giáp Tí ở cung 1 của Hưu.

(8) Trực phù địa ở đâu thì Môn nơi ấy là Trực sử. Như khóa trên, Trực Phù ở đất Khảm thì Hưu môn là Trực sử.

(9) Trực phù bay theo can giờ. Như khóa ở trên, can giờ là Bính. Trực Phù là Mậu, vậy đưa Mậu bay trên Bính.

(10) Trực Sử, Dương độn bay xuôi, Âm độn bay ngược. Như khóa ở trên thuộc Dương. Hưu môn Trực Sử giờ Tí ở cung 1; giờ Sửu cung 2; giờ Dần cung 3. Vậy Trực Sử ở cung 3 là Chấn.

(11) Đầu trong 6 Giáp gọi là 6 Nghi:Lục Mậu Giáp Tí . Lục Kỷ Giáp Tuất. Lục Canh Giáp Thân.Lục Tân Giáp Ngọ. Lục Nhâm Giáp Thìn. Lục Quý Giáp Dần.

(12) Trên một khóa Giáp, giải đủ 6 Nghi rồi thì giải đến 3 Kỳ là Ất, Bính, Đinh. Thế là 10 can trời dùng 9 còn can Giáp thì ẩn trong 6 Nghi, không lộ. (Vì quỹ đạo hình xoắn ốc, chia chín cung, từ Giáp chạy đến Nhâm là hết chín số, đến Quý thì hết một vòng và trùng với điểm Giáp ban đầu. Và đến điểm giáp tiếp theo thì đã bước sang một chu kỳ mới)

(13) Cửa cát có 3 là Khai, Hưu, Sinh.

(14) Tam Kỳ đắc Sử là Ất gặp Tuất Ngọ, Bính gặp Tí Thân, Đinh gặp Dần Thìn. Còn có:Ngày Giáp Kỷ gặp Ất. Ngày Ất Canh gặp Đinh.Ngày Bính Tân Gặp Bính. Ngày Đinh Nhâm gặp Ất.Ngày Mậu Quý gặp Đinh.

(15) Tam Kỳ du Lục Nghi là cách Ngọc Nữ thủ môn ( Người Ngọc tựa cửa) và là: Giáp Kỷ gặp Bính. Ất Canh gặp Tân. Bính Tân gặp Ất. Đinh Nhâm gặp Kỷ. Mậu Quý gặp Nhâm

(16) Thiên tam môn là: Thái xung tức Mão, Tiểu cát tức Vị (Mùi), Tòng Khôi tức Dậu.Địa tứ hộ là Trừ, Nguy, Định, Khai trong vòng 12 nguyệt kiến.Trừ, Định, Khai, Nguy : ấy là các trực thứ 2,5,8,11. Cách tính như sau : tháng Giêng khởi tính trực Kiến tại Dần, tháng 2 khởi Kiến tại Mão, tháng 3 tại Thìn, tháng 4 tại Tỵ, tháng 5 tại Ngọ…Đã biết khởi trực Kiến tại đâu rồi thì cứ tính thuận tới mỗi cung một Trực theo thứ tự 12 trực như sau : Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thâu, Khai, Bế. Thí dụ : tháng 2 chiêm quẻ thì khởi Kiến tại Mão và tính thuận tới thì Trừ tại Thìn…Định tại Mùi….Nguy tại Tuất….Khai tại Sửu.
1. [FONT=&amp]建[/FONT] Kiến: Nói chung là tốt, nhưng không có lợi cho việc xây cất, động thổ.
2. [FONT=&amp]除[/FONT] Trừ: Ngày này phù hợp cho những việc mang tính “trừ” bỏ cái cũ. Các việc khác không tốt.
3. [FONT=&amp]滿[/FONT] Mãn: Chỉ phù hợp với việc cúng tế, cầu xin các lực lượng siêu nhiên.
4. [FONT=&amp]平[/FONT]Bình: Vạn sự tiến hành trong ngày này đều tốt.
5. [FONT=&amp]定[/FONT] Định: Nên mở tiệc tùng, hội họp, thảo luận hay bàn bạc. Không nên làm nhũng việc như mổ xẻ, khởi kiện, cử người chỉ huy làm một việc gì đó.
6. [FONT=&amp]執[/FONT]Chấp: Nên tu tạo, sửa chữa, trồng trọt, săn bắn. Không nên làm các việc như chuyển nhà, đi chơi, mở cửa hàng buôn bán, xuất tiền của.
7. [FONT=&amp]破[/FONT] Phá: Mọi việc đều bất lợi. Duy chỉ có những việc mang tính “phá” như việc tháo dỡ nhà cửa là tiến hành được.
8. [FONT=&amp]危[/FONT] Nguy: Mọi việc đều xấu.
9. [FONT=&amp]成[/FONT] Thành: Nên khai trương kinh doanh, nhập học, kết hôn, nhậm chức, nhập trạch vào nhà mới. Không nên kiện tụng.
10. [FONT=&amp]收[/FONT]Thu: Hợp với những việc có tính chất “thu” như dựng kho tàng, cất giữ của cải, săn bắn, thu hoạch hoa màu, ngũ cốc… nhưng không nên tiến hành các công việc mới như khai trương, không nên đi du lịch. Kị tang lễ.
11. [FONT=&amp]開[/FONT] Khai: Lợi cho việc mang tính “mở”, như kết hôn, bắt đầu (khai trương) kinh doanh hay khởi công, khánh thành một công việc nào đó. Không nên làm các công việc như đào đất, chôn cất người mất, săn bắn, đẵn gỗ, và những công việc không sạch sẽ.
12. [FONT=&amp]閉[/FONT] Bế: Nói chung là không thuận lợi cho mọi việc. Ngoại trừ các việc có tính chất “đóng” như đắp đê, xây vá tường, ngăn cản một sự việc nào đó.

Có bài vè rằng:

Kiến, Phá : Gia trưởng bệnh
Trừ, Nguy : Phụ Mẫu vong.
Mãn, Thành : Đa phú quý
Chấp Bế : Tổn Ngưu Dương
Bình Định : Hưng nhân-khẩu
Thu Khai : Vô họa ương.

(17) Địa tư môn là Thái Âm, Lục Hợp, Thái thường. Địa tư môn mà gặp được 3 cửa cát và 3 Kỳ thì hay lắm.

(18) Phục Ngâm, Phản Ngâm chia 2 loại: Sao gặp Phản, Phục Ngâm và cung gặp Phản, Phục Ngâm: 2 loại cùng xấu như nhau.

(19) Lục Nghi kích hình là:Mậu Giáp Tí trên Chấn 3 Kỷ Giáp Tuất trên Khôn 2Canh Giáp Thân trên Cấn 8 Tân Giáp Ngọ trên Ly 9Nhâm Giáp Thìn trên Tốn 4 Quý Giáp Dần trên Tốn 4

(20) Thời can nhập mộ là:Bính mộ ở Kiền Tuất Nhâm mộ ở Tốn ThìnTân mộ ở Cấn Sửu Ất mộ ở Khôn VịMậu mộ ở Kiền Tuất.

(21) Giờ ngũ bất ngộ là can giờ khắc can ngày. Như ngày Giáp gặp giờ Canh. Giờ này gọi là Nhật Nguyệt tổn quang minh (Trời trăng mất sáng).

(22) Thiên Ất ở đây là thiên thượng Trực Phù, cũng tức là Can giờ trên Thiên bàn.

(23) Những giờ dương (Giáp Ất Bính Đinh Mậu) nên tựa các sao cát (ở đây nói về Tinh) trên nền trời, tại sao vậy, vì giờ Dương thì khí trời làm chủ nên phải lấy Tinh thuộc về Thiên bàn. Những giờ âm (Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) nên tựa các sao cát (ở đây nói về cung địa bàn) trên vành đất mà đánh sang cung đối xung (Giờ Âm thì khí Đất làm chủ nên lấy cung địa bàn mà xem).

(24) Thiên độn là cách Sáu Bính gặp cửa Sinh và trên Đinh. Địa độn là cách Sáu Ất Gặp cửa Khai và trên Kỷ. Nhân độn là cách Sáu Đinh gặp cửa Hưu và Thái Âm.

(25) Các sao trong Độn Giáp gặp thời cùng hành, là được Tướng khí. Gặp thời được sao sinh là được vượng khí. Gặp thời mà sao khắc là Hưu khí. Gặp thời mà sinh sao là Phế khí. Gặp thời khắc sao là Tử khí. Như Thiên Bồng thuộc Thủy thì Tướng ở Đông, Vượng ở Xuân, Hưu ở Hạ, Phế ở Thu, Tù ở 4 tháng Quý (hay chính xác hơn là 18 ngày cuối cùng của mỗi Quý).Đoạn đầu của bài ca này có nói về gốc gác của khoa Độn giáp này như sau: vua Hoàng Đế đánh nhau với Suy Vưu ở Trác Lộc. Thua mãi. Sau cầu trời được bà Cửu Thiên Huyền nữ trao truyền thuật tính Độn Giáp. Rồi trên sông Lạc có Rồng thiêng đội Hà Đồ nhô lên, trên mây xanh có Phượng Hoàng ngậm Lạc thư bay xuống. Hoàng Đế liền sai Phong Hậu ghi chép lại thành khoa học Độn Giáp này.Thật ra thì không làm gì có chuyện bà Cửu Thiên Huyền nữ (bà Chín trời cao thẳm- huyền đây là cao sâu, không phải là đen như nhiều người nghĩ) xuống dạy Độn Giáp, cũng không có chuyện Rồng thiêng Phượng lạ. Vẽ ra như thế cho đẹp mắt giống nòi mà thôi.

- Advertisement -

BÀI VIẾT KHÁC