35.6 C
Hanoi
Thứ Năm, 4 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Trang chủ Blog Trang 13

Kỳ môn độn giáp bí kíp toàn thư – I

0
Tựa

Kỳ Môn Độn Giáp

Bộ Kỳ Môn Độn Giáp này tương truyền là của hai vị tiên sinh Trương Tử Phòng và Gia Cát Lượng làm ra bí kíp. Ở trong nói về hành quân xuất trận cho đến chiêm nghiệm ẩn độn mọi việc, không việc gì là không có ứng nghiệm, bởi vì Trương Tử Phòng được Hoàng Thạch Công chân truyền, phò Hán Cao Tổ xuất sư và điền thành tổng cục 18 cách mà thành công quyết thắng. Thục Khổng Minh từ Long Trang ra, phò nhà Hán, giúp Tiên đế chia bá thiên hạ. Những thần cơ diệu toán của ngài không gì không có căn cứ vào Tam Kỳ Cửu Cung. Không vì đời xa năm thẩm, sách vở sai biệt mà Lưu Bá Ôn tiên sinh sưu tập mọi bí san định thành sách mà có thể xem tóm được hết. Cho đến nay, những nhà xuất bản khác bản đã lấy ngoa truyền, sai ngoa, dù Tí chút hào lý mà mất đi ngàn chân lý. Nay Kế Cổ Tô chủ nhân kiếm được bí bản nguyên khắc giao cho làm bản in đó, hiệu đính lại tinh tường, hào lý không sót, xứng đáng mà bộ sách để bên gối đầu.Dân quốc năm thứ 3 Giáp Dần, đấu thu.
Tiên Đường Hồng Bảo Vinh cẩn thức.

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP TÔNG TỰ
________________(Lời tựa)

Trộm thấy khi Hoàng đế đánh nhau với Suy Vưu ở Trác Lộc, mộng được thần trời trao truyền bùa phép, bèn sai Phong hậu diễn ra kỳ môn. Độn giáp có từ đó.

Đế Nghiêu sai Đại Vũ đi trị thủy, được Huyền Nữ truyền cho văn thư, mà nhận rùa thiêng sông Lạc. Lưng mang 9 trù. Độn giáp được xếp thành từ đó.

Hán Tử Phòng gom thành 18 cục mà thành công quyết thắng.

Thục Khổng Minh chia ra 3 Kỳ mà sáng được nghiệp gian nan.

Trước bày 9 cung trên bàn tay, cung Khảm ở 1, Khôn ở 2, Chấn 3, Tốn 4, Trung ương 5, Kiền 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9 mà hình thành tạo hóa.

Rồi chia 8 quái trên bàn: Ly vị ở Nam, Khảm vị ở Bắc, Chấn Đông, Đoài Tây, Tốn Đông Nam, Khôn Tây Nam, Cấn Đông Bắc, Kiền Tây Bắc mà định được 4 phương 4 góc. Ngang dọc thành số 15, mà làm 3 Nguyên.

Lấy bát quái chia 8 tiết mà tiết lệnh được toàn. Lấy 1 tiết thông 3 Khí mà khí hậu đầy đủ. Gặp Giáp Kỷ là Phù đầu, phải có kỳ nhuận để bố cục. Phù nhanh tiết chậm thì xét Giáp Kỷ đến nơi nào mà dùng phép Siêu thêm, Tiết trước Phù sau thì nghiệm xem nhật thần Giáp Kỷ ở đâu để đặt phương tiết khí.

Từ Tí đến Ngọ thuộc mặt Đông, là sau khí Đông chí, tính Độn dương trải qua các cung Khảm Cấn Chấn Tốn. Nghi đi thuận mà Kỳ đi nghịch, do trực Phù bay thuận trên 9 cung.

Từ Ngọ đến Tí thuộc mặt Tây, là sau Hạ chí, tính Độn âm, trải qua các cung Ly Khôn Đoài Kiền. Kỳ bày xuôi mà Nghi bày nghịch, do Trực phù bay nghịch trên 8 quái.

Nhận 9 cung, yên 9 tinh, làm Trực phù mà cát hung chia được. Như cung Khảm nhận Thiên Bồng làm Phù, thì Thiên nhuế ở 2, Thiên Xung 3, Thiên Phụ 4, Thiên Cầm 5, Thiên Tâm 6, Thiên Trụ 7, Thiên Nhậm 8, Thiên Ương 9.

Phối 8 quái, dựng 8 Môn làm Trực Sử mà phán được dở hay (hưu cữu). Như cung Kiền phối Khai là Trực Sử, thì Hưu môn ở Khảm, Sinh môn ở Cấn, Thương Môn ở Chấn, Đỗ môn ở Tốn, Cảnh Môn ở Ly, Tử môn ở Khôn, Kinh môn ở Đoài.

Rồi Trực Phù theo can giờ, mà can giờ trọ trong nơi Trực Phù khởi đầu.

Tìm Trực Sử ở Chi giờ mà Chi giờ trọ trên phương Trực Sử.

Thiên Bàn 9 tinh, cộng Kỳ Nghi, mỗi giờ mỗi đổi là tượng giờ chuyển tròn.

Địa Bàn 9 tinh với Kỳ Nghi, cứ 5 ngày thì rời. Đạo Đất trinh tĩnh là đó.

Thiên Bàn tới Địa, xét được cát hung mòn nở. Địa bàn thừa Thiên đoán được hay dở đầy vơi (hưu cữu danh hư).

– Giáp Tí thiên Giáp Tí địa là phục ngâm. Hễ thấy Môn Phù đầu trên bản cung, đều theo lệ này, và không dùng làm gì được.

– Thiên Ương Đất gặp Thiên Bồng Trời (Thiên Anh gia ly 9) là Phản Ngâm. Hễ thấy Môn trên cung xung, đều theo lệ này, nên lánh đi thì hơn.

– Cát môn tới 3 Kỳ, mọi việc cầu đều vừa ý.

– Kỳ môn vào Mộ, cố mà làm cũng không thành.

– Ất Bính Đinh, Sinh Hưu khắc hợp với thái Âm, đó gọi là Tam Toàn (đủ ba). Kỳ cát, Âm hoặc thiếu một, thì xem phương sau lưng, thế gọi là nhị kỳ (hai kỳ).

– Lục Nghi kích hình (sáu Nghi đâm đánh) thật là rất ác, không dùng làm gì được.

– 9 Độn mà hợp Môn thì rất lợi, làm được rất nhiều.

– Khai môn hợp với Ất, ở trên ngôi Kỷ, không phạm Kỳ vào Mộ, Môn bị bách gọi là Địa Độn, ở Ngôi Tử Vi, được Tinh Nhật che chở.

– Nguyệt kỳ ở trên Đinh gặp Sinh môn, không phạm Kỳ mộ, Môn bách gọi là Thiên Độn, che Hoa Cái (lọng hoa), được Tinh Nguyệt che chở.

– Môn Hưu và Kỳ Đinh, hợp với Thái Âm, cùng một địa bàn, gọi là Nhân Độn, cũng có thể ra quân.

– Kỳ Bính cùng Sinh môn, hợp Cửu Thiên là Thần Độn.

– Tinh Kỳ gặp Hưu môn là Quỷ Độn.

– Long Độn thì Nguyệt Kỳ hợp Hưu Quý, hoặc trên Khảm.

– Hổ Độn thì Ất Kỳ tới Sinh môn, hoặc ra ở Cấn.

– Phong Độn thì Nhật Kỳ Khai môn, tới cung Tốn.

– Vân Độn thì Nguyệt Kỳ Khai môn, hợp ở Thân (Khôn).

Đây là 9 Độn danh, nhà binh đem dùng không gì nghiệm và không thấy ứng.

Tinh có Âm Dương, Môn có mở Khép, duy Thiên Cầm không có định vị, thuộc trung cung mà gởi ở Tây nam.

Tòng Tam Tỵ ngũ (theo 3 tránh 5) là hại, là sinh.

– Đất thắng có 3: Trực phù trời lâm Thiên Ất. Đại tướng nên đóng đấy là 1.
Sau Trực phù 1 cung là Cửu thiên, quân ta nên đóng đấy là 2, cửa Sinh (cung Cấn) địa bàn hợp với cung Tam kỳ. Nên dẫn quân từ cửa Sinh đánh sang cửa Tử thì trăm chiến trăm thắng, đấy là 3.

– Không kích được có 5: cung Thiên Ất, Cửu Thiên mà kích tất chịu ương vậy, đó là 1 và 2.

Sinh môn Cửu Địa mà phạm, tất chịu hại ấy, đó là 3 và 4.

Trực phù mà tới cùng Trực sử, dụng binh mà đột vây thúc trận nơi ấy thì tướng chết quân tan, đó là 5.

Giờ Mạnh Giáp mà hình Môn, nơi ấy không thể ra vào, chỉ nên ẩn tích.

Giờ Trọng Giáp, Dương ở trong, chỉ nên giữ vững, lợi sự tàng binh.

Giờ Quý Giáp, Âm ở trong Dương ở ngoài, nên chia chủ khách rồi quyết thư hùng.

Sáu Ất là Thiên Đức, ra nơi đó mà tiến đến Nhật kỳ, có thể quyết thắng lúc nào (khả quyết thắng ư vị nhiên chi nội).

Sáu Bính là Thiên Uy, ví không là thời lửa Bính nấu Kim, thì nên phóng bại ở khi không chắc chắn.

Giờ tới Sáu Đinh, gọi là Ngọc nữ tiềm hình (người ngọc ẩn hình), ẩn nấp không thấy dấu vết.

Giờ tới Sáu Mậu gọi là Thừa Long vạn Lý (cưỡi rồng muôn dặm), gặp hung đồ mà chúng trốn sạch.

Sáu Kỷ là địa hộ (ngõ đất), nên làm ngầm, dùng trộm cắp.

Sáu Quý là Thiên Cương (vó trời), xét cao thấp cho lợi việc trốn.

Sáu Canh mà ra trận, lầm lỗi tới nơi tướng soái.

Sáu Tân mà ra quân, tai họa tất tới bản thân.

Sáu Nhâm là Thiên Lao, họa bay đến gấp.

Sáu Giáp là đầu giờ, ứng vào cục rất linh.

– Sáu Giáp trên Sáu Bính là Thanh Long phản thủ (rồng xanh ngoái cổ) mọi việc làm đều không trở ngại.

– Sáu Bính trên Giáp là Phi điểu điệt huyệt (chim bay về tổ), việc làm gấp sẽ thành.

– Ất trên Tân là Thanh Long đào tẩu (rồng xanh chạy trốn) mà tài vật rơi mất.

– Tân trên Ất là Bạch Hổ xương cuồng (hổ trắng kêu rống) mà thân thể hủy thương.

– Đinh trên Quý là Chu tước đầu giang (Sẻ son lao sóng) mà kiện tụng tù ngục dấy lên.

– Quý trên Đinh là Đằng xà yêu kiều ( rắn bay uốn éo) thì lo sợ tất đến.

– Sáu Canh trên Phù là Phục cung (cung nép), không lợi cho Chủ mà lợi cho Khách.

– Trực phù trên Canh là Phi cung cách (cách cung bay) không quý ở chiến mà quý ở mưu (Trực phù trên Canh là Trực phù gia địa bàn Canh hay Giáp gia Canh).

– Canh trên Trực phù là Thái Bạch cách Thiên ất phục, binh ngoài tới xâm mà chủ tướng tất bại.

– Trực phù trên Sáu Canh là Thái Ất cách Thái Bạch (hay Thiên Ất phi), cố ra quân mà tướng khách làm ngăn trở.

– Trực Sử tới Canh, gọi là Dã chiến (chiến ngoài đồng), binh tuy tinh nhuệ mà mắc khốn.

– Canh trên Trực Sử tên gọi đồng cung (cùng cung), tướng tuy kiêu mà không toại chí.

– Canh trên Sáu Bính đó là Thái Bạch nhập Huỳnh hoặc (sao Kim vào sao Lửa), thì giặc tất đến.

– Bính trên Sáu Canh, đó là Bính Hỏa nhập Kim hương (Lửa Bính vào quê Kim) thì giặc tất rút lui.
Cách này Chủ Khách đều không lợi, đừng có ỷ vào việc thấy được Kỳ Môn mà cố dùng.

– Thiên Địa Đại cách (cách Trời Đất lớn) là dưới Canh có Quý.

– Thiên Địa Tiểu cách (cách Trời Đất nhỏ) là trên Nhâm có Canh.

– Canh trên Kỷ, quân lính chết ở dọc đường.

– Kỷ trên Canh, tướng binh mắc ách ở đường nguy.

– Tuế cách là khi Tuế gặp Canh.

– Nguyệt cách là Canh trên ngày Sóc kiến.

– Canh tới Can ngày là cách Phục can (can nép) thì chủ nhân gặp thương.

– Can ngày trên Canh là Phi Cung cách (cách cung bay) thì tướng khách không thắng.

– Can giờ khắc Nhật là Ngũ bất Ngộ (5 không gặp) thì mất sáng!

– Bính trên can ngày gọi là Bột Loạn (Trái loạn) thì kỷ cương điên đảo.

– Trời có 3 Môn: Thiên xung, Tiểu cát, Tòng Khôi. Đất có 4 hộ là trong tháng gặp Trừ, Nguy, Định, Khai.

– Trực sử giao nhau là Thiên Ất có ở đó.

– Giờ Trực tới nơi là hành cung của Thiên Ất.

– Trực phù ấy cùng với Thiên Ất, có nạn, nên bỏ.

– Môn theo Thần sau 1 cung là Cửu Thiên, sau 2 cung là Cửu Địa. Đất có Cửu thiên lợi việc dương binh. Dưới cung Cửu Địa lợi việc phục binh.

– Trước 3 cung là Lục Hợp, 2 cung là Thái Âm. Trong Lục Hợp trốn lánh là lợi. Đất Thái Âm đặt Phục rất nên.

– Phương Tam Trá ( ba dối), cử động đều lợi, đó là Hưu, Sinh, Khai hợp Ất, Bính, Đinh, Cửu Địa, Thái Âm mà thế.

– Đất Ngũ Giả (5 giả) đều có cát hung. Đó là Đỗ Tử Kinh Thương Cảnh, hợp Cửu Địa, Thái Âm, Ất, Bính, Đinh, Kỷ, Quý mà nên.

Như sáu Mậu là thuật không chắc, Sáu giáp có diệu âm phù (bùa âm), đó là tâm giác đạo không có lời truyền. Có chí về nước yên dân, ra làm tướng quân, vào làm Tướng tể không thể không biết được. Ô hô! Chia Trời Đất ở trên tay nắm 81 (9×9=81 bước đi của Cửu tinh), la liệt các tinh tú ở trong dạ. Gió sấm theo từng hơi thở. Thần quỷ nghe theo chỉ huy. Văn bí ở nơi kho Trời nhà Bá để toán thần vận trù quyết thắng ư!

Năm Đại sinh Hồng Vũ thứ 4, tháng ,
Ngày 8 tề tựu
Lưu Cơ bá Ôn cầu thúc./.

GIẢI THÍCH VỚI TIÊN THIÊN BÁT QUÁI VÀ PHÉP NẠP GIÁP

0

GIẢI THÍCH VỚI TIÊN THIÊN BÁT QUÁI VÀ PHÉP NẠP GIÁP

Ngày xưa họ Bao Hy làm vua đã làm ra bát quái, lấy gốc từ hà đồ. Tiên thiên bát quái này thứ tự là: Càn (1), Đoài (2), Ly (3), Chấn (4), Tốn (5), Khảm (6), Cấn (7), Khôn (8).
Posted Image

Hệ từ truyện nói rằng: “Trời đất định vị, núi đầm thông khí, sấm gió quện vào nhau, thủy hỏa không bắn nhau”, đây là miêu tả quá trình bát quái sinh hóa:

Posted Image
  • Giáp vốn thuộc mộc, nạp quái ở Càn, Càn thiên nhất sinh thủy – Khôn địa lục thành chi (trời 1 sinh thủy, đất 6 làm cho thành), vậy là can Giáp theo Càn hóa thành Khảm. Đây là khi Càn Khôn hai quẻ phụ mẫu giao cấu, Càn lấy hai nét gạch trên/dưới của Khôn để biến thành khảm. Vì vậy Giáp mang hành thủy.
  • Ất thuộc mộc, nạp giáp ở Khôn, Khôn địa nhị sinh hỏa – Càn thiên thất thành chi (đất lấy số 2 sinh hỏa, trời lấy số 7 làm cho thành). Đây là khi Khôn lấy hai nét gạch trên và dưới của Càn để làm thành quẻ Ly. Vì vậy Ất mang hành hỏa. Đây chính là “trời đất định vị”.
  • Bính thuộc hỏa, nạp giáp ở Cấn, Cấn đối nhau với Đoài, Cấn lấy hào dưới của Đoài biến thành quẻ Ly. Đây là tượng của Bính thụ nhận hành hỏa từ Ly (mặt trời, thái dương hỏa). Vì vậy Bính mang hành hỏa.
  • Đinh thuộc hỏa, nạp giáp tại Đoài, Đoài đối nhau với Cấn, lấy hào trên của Cấn mà biến thành quẻ Càn, tượng cho can Đinh thụ nhận Càn hóa. Vì vậy can Đinh mang hành Kim. Đây chính là “núi đầm thông khí”.
  • Canh thuộc kim, nạp giáp tại Chấn, Chấn đối nhau với Tốn, lấy hào trên của Tốn mà biến thành quẻ Khôn, tượng cho can Canh thụ nhận Khôn hóa. Vì vậy can Canh mang hành thổ.
  • Tân thuộc kim, nạp giáp tại Tốn, Tốn đối nhau với Chấn, lấy hào trên của Chấn mà biến thành quẻ Khảm, tượng cho can Tân thụ nhận Khảm hóa. Vì vậy can Tân mang hành kim. Đây gọi là “Sấm gió quện vào nhau”.
  • Nhâm vốn hành thủy, nạp giáp tại Ly, Ly đối nhau với Khảm, lấy hào giữa của Khảm mà biến thành quẻ Càn, tượng cho can Nhâm thụ nhận Càn hóa, can Nhâm vốn thuộc kim. Tuy nhiên, Nhâm nạp khí Ly hỏa tuy bị Càn hóa nhưng do định luật hỏa khắc kim nên hành hỏa không thể thoái vị, vì vậy can Nhâm mang hành hỏa.
  • Quý vốn hành thủy, nạp giáp tại Khảm, Khảm đối nhau với Ly, lấy hào giữa của Ly mà biến thành quẻ Khôn, tượng cho can Quý bị Khôn hóa. Vì vậy Quý thuộc thổ. Đây là mối quan hệ giữa hai quẻ Khảm Ly, gọi là “nước lửa không bắn nhau”.

Ta thấy rằng: hai quẻ Càn và Khôn (thoái thân vào Thân, Hợi trong hậu thiên) là tổ tông nên ngũ hành của chúng không thay đổi, Đoài Chấn Khảm Ly ở vị trí tứ chính Tí Ngọ Mão Dậu là nơi kim mộc thủy hỏa chính vị/đất tứ vượng, có công năng tuyên bố thời lệnh của bốn mùa nơi khí hóa hành ở đó nên không thể biến đổi. Còn lại: Cấn, Tốn dùng biến:

  • Cấn thổ thay đổi ngôi vị ở giới hạn Khảm Chấn phương Đông Bắc, đặt chân ở chỗ khoảng Sửu suy, Dần bệnh (vì hành thổ trường sinh ở Thân, tới Sửu là suy, tới Dần là bệnh) nên thổ khí suy yếu. Vì vậy Cấn mang hành mộc.
  • Tốn mộc thay đổi vào vị trí của Chấn Ly trong giới hạn Đông nam, đặt chân ở chỗ Thìn suy, Tỵ bệnh (vì mộc trường sinh ở Hợi, suy ở Thìn, bệnh ở Tỵ), vì vậy hành mộc suy yếu mà mang hành thủy của Thìn mộ.

Tỵ vốn thuộc hỏa nên theo mộc mà sinh, nhân từ chấn, thay chấn mà đứng nên mang hành mộc. Hợi vốn thuộc thủy, theo kim mà sinh, tạm ở ngôi vị kim, vì vậy Hợi thuộc hành kim.
Thân vốn thuộc kim, thủy có thể sinh Thân, kim trợ thế cho thủy, vì vậy Thân thuộc thủy. Dần vốn thuộc mộc, theo thủy mà sinh, tạm ở ngôi vị thủy, vì vậy Dần thuộc thủy.
Thìn Tuất Sửu Mùi vốn thuộc thổ (thổ thủy dung nhau), nhưng Sửu Mùi âm tĩnh vì vậy thuộc thổ, còn Thìn Tuất dương động, vì vậy thuộc thủy.

THUYẾT NẠP GIÁP
Càn Khôn là gốc của Âm Dương, là đầu cuối của Âm Dương 64 quẻ cho nên lần lượt nạp Giáp Ất Nhâm Quý. Khi nạp Thiên can vào quẻ thì căn cứ theo số thứ tự Tiên thiên bát quái của quẻ phối với thứ tự của 10 Thiên can như sau: Càn 1 đứng đầu nạp Giáp mộc đứng đầu của Thiên can, Càn thuộc dương nạp Giáp cũng thuộc dương. Tiếp đến Đoài 2 phối với cặp Thiên can Bính-Đinh thuộc Hỏa, Đoài thuộc Âm nên phối với Đinh cũng thuộc Âm. Tiếp đến Ly 3 phối với cặp Thiên can Mậu-Kỷ thuộc Thổ, quẻ Ly thuộc Âm nên phối với can Kỷ thuộc âm. Tiếp đến Chấn 4 phối với cặp Thiên can Canh-Tân thuộc Kim, quẻ Chấn thuộc Dương nên phối với can Canh thuộc Dương. Càn Khôn đối ứng, trời đất định vị, Giáp dương nạp Càn dương, nên Ất âm nạp vào Khôn âm. Cấn Đoài đối ứng, núi đầm thông khí, Đoài âm nạp can Đinh âm, nên Cấn dương nạp can Bính dương. Khảm Ly đối ứng, Thủy Hỏa tương tề, Ly âm nạp Kỷ âm nên Khảm dương nạp Mậu dương. Chấn Tốn đối ứng, sấm gió cùng nhau, Chấn dương nạp can Canh dương, nên Tốn âm nạp can Tân âm. Còn lại cặp Nhâm Quý thuộc Thủy, nạp vào 2 quái phụ mẫu Càn Khôn, Nhâm dương nạp theo Càn dương, Quý âm nạp theo Khôn âm. Kinh Phòng căn cứ theo thứ tự Ngũ hành Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy phối ứng với số Tiên thiên Ngũ hành 3-2-5-4-1, cặp số 3-2 thuộc Xuân-Hạ mà Dương trước Âm sau, cặp 4-1 thuộc Thu-Đông mà Dương sau Âm trước.

THUYẾT NẠP ĐỊA CHI
“Định cát hung chỉ lấy tượng của một hào”.
Kinh Phòng lần lượt cho 6 hào của 64 quẻ đối ứng với 12 địa chi, với quy luật phân theo Chi âm và Chi dương tương ứng với số chẵn lẻ rồi cho đối ứng với 384 hào. Chi dương đi thuận chiều vì dương chủ tiến, Chi âm đi ngược chiều vì Âm chủ lùi, vì 8 quẻ thì có 4 quẻ thuộc dương, 4 quẻ thuộc âm, mà 12 Chi lại có những 6 chi dương và 6 chi âm. Âm theo Ngọ, Dương theo Tí, Tí-Ngọ phân đường đi, Tí đi phía trái, Ngọ đi phía phải. Tháng 11 tháng 5 là tháng Tí Ngọ lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 quẻ Càn. Tháng 12 và tháng 6 là tháng Sửu Mùi lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 của quẻ Khôn, vì căn cứ theo “thuyết quái” nói Càn Khôn là quẻ Cha Mẹ. Thể của quẻ Dịch phải đủ 6 vạch mới thành, 6 vạch lại phân chia ngôi âm ngôi dương mới thành quẻ, mới phản ánh cụ thể mối quan hệ sinh khắc giữa Bố Mẹ và Con của 8 cung quái với vị trí 6 hào. Như quẻ Càn thuộc Kim là quẻ Bố Mẹ, hào Sơ thuộc Thủy, Kim sinh Thủy, mẹ sinh con, cho nên là cát, hào 4 thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim, con khắc mẹ là hung. Như vậy có nghĩa là tương sinh là thuận, tương khắc là hung, mẹ sinh con là đại cát, con khắc mẹ là đại hung. Kinh Phòng nói: Quỷ bát quái là hào “học”, tài là hào “chế”, trời đất là hào “nghĩa”, phúc đức là hào “bảo”, đồng khí là hào “chuyển”.

THUYẾT QUÁI KHÍ
Kinh Phòng lấy 64 quẻ 384 hào ứng với 1 năm, nói “ hào đầu trên, hào hai giữa, hào ba dưới, số của tháng 3 thành ra tháng 1. Hào đầu 3 ngày, hào hai 3 ngày, hào ba 3 ngày, tất cả là 9 ngày, còn dư ra một ngày gọi là ngày nhuận. Mười ngày của hào đầu là Thượng tuần, mười ngày của hào hai là Trung tuần, mười ngày của hào ba là Hạ tuần, 3 tuần là 30 tích tuần”.
“Thành tháng, tích tháng thành năm, 8 lần 8 là 64 quẻ, chia ra 64 quẻ phối với 384 hào thành 32 x 360 = 11520 thẻ. Khí dịch 24 tiết khí phối hợp với Ngũ hành, thì mọi việc từ đạo Trời, đến vận mệnh con người, đến Trăng, Sao, ta đều có thể thấy được mọi chuyện cát hung rõ ràng”.
Âm sinh dương tiêu, dương sing âm diệt, hai khí giao nhau, thì vạn vật mới sinh ra. Dương nhập vào âm, âm nhập vào dương, hai khí giao hỗ không ngừng, cho nên gọi thế là “sinh”. Dương trong âm, âm trong dương, hai khí âm dương hòa vào nhau mà thành “tượng”. Kinh Phòng căn cứ vào âm dương khí hóa, âm dương thăng giáng và âm dương tiêu trưởng chuyển hóa đưa ra nguyên lý quẻ ẩn – hiện, trong đó quẻ “hiện” là quẻ hướng ngoại, lộ mặt, còn quẻ “ẩn” thì hướng nội, tiềm ẩn. Nói chung, tượng quẻ dương phần nhiều là quẻ “hiện”, tượng quẻ âm phần nhiều là quẻ “ẩn”. Ví như quẻ Càn có tượng thuộc dương, phối Thiên thuộc Kim, nó với quẻ Khôn là một cặp đối ứng “ẩn – hiện”. Quẻ Khôn có tượng thuộc âm, phối hợp với Địa thuộc Thổ, khi phối với quẻ Càn là một cặp đối ứng “ẩn – hiện”. Nguyên lý “ẩn – hiện” trong tượng hào của quẻ vốn “ngụ hàm” với nhau, như hào Sáu đầu của quẻ Khôn nói “ lý sương kiên băng chí” thích là “ rồng đánh nhau ở cánh đồng, máu chúng chảy ra đen vàng”. Rồng tính dương là đặc tính của Càn dương, nói nên mối quan hệ “ẩn – hiện” của hai quẻ Càn – Khôn, cấu thành cặp quẻ đối ứng với nhau. Không những hai quẻ Càn Khôn đối ứng với nhau, mà giữa 64 quẻ cũng cấu thành từng cặp “ẩn – hiện” với nhau. Khi chiêm nghiệm theo “ẩn – hiện”, ta có thể từ hai mặt chính – phản, tăng lượng thông tin về chiêm nghiệm được nhiều hơn, đó là mối quan hệ giữa hai mặt chính – phản của âm – dương. Theo Kinh Phòng, sự biến hóa âm dương là nguyên nhân khiến cho các thiên thể trong vũ trụ vận động, âm dương thăng giáng là quy luật vận động của Vũ trụ, sự chuyển hóa âm dương tiêu trưởng phản ánh mối liên hệ nội bộ âm dương.
Kinh Phòng nhấn mạnh rất nhiều vào sự chiêm nghiệm, ông cho rằng mục đích của sự nghiên cứu Dịch quái là ở chỗ “định cát hung, rõ được mất”, do đó ông sáng tạo ra quẻ 8 cung, phát huy mối quan hệ ngang dọc, là cốt để “định dự cát hung”. Ông nói “ Nghĩa về cát hung, bắt đầu ở Ngũ hành, kết thúc ở Bát quái. Nghĩa lý về âm dương là sự phân định về Năm, Tháng. Một khi Năm, Tháng đã phân định thì sẽ đoán định được cát hung”. Phần lớn vật chất dương là “hư”, vật chất âm là “thực”, “hư” là bề ngoài của dương, “thực” là bên trong của âm, “hư” là bề gnoài của “thực”, “thực” là phần bên trong của “hư”.
Thuyết Quái khí là sự đối ứng giữa 64 quẻ và 34 tiết khí, bao gồm Tứ thời và 24 khí, thuyết này bắt nguồn thuyết quái khí của Mạnh Hỷ, bao gồm ba nội dung sau:
– Thuyết quái khí Tứ chính quái: lấy bốn quẻ Khảm – Chấn – Ly – Đoài làm tượng ứng với 24 tiết khí, mỗi quẻ có 6 hào ứng với 6 tiết khí. Trong đó, quẻ Khảm ứng với 6 tiết khí từ tiết Đồng chí đến tiết Kinh trập. Quẻ Chấn ứng với 6 tiết khí từ tiết Xuân phân đến tiết Mang chủng. Quẻ Ly ứng với 6 tiết khí từ tiết Hạ chí đến tiết Bạch lộ. Quẻ Đoài ứng với 6 tiết khí từ tiết Thu phân đến tiết Đại tuyết. Trong bốn quẻ này, 6 hào của mỗi quẻ, từ hào Đầu đến hào Trên, lại phân ra làm chủ 6 tiết, như hào Đầu quẻ Khảm, làm chủ việc của tiết Đông chí, hào 2 tiêt Tiểu hàn, hào 3 tiết Đại hàn, hào 4 tiết Lập xuân, hào 5 tiết Vũ thủy, hào Trên tiết Kinh trập.
– Thuyết Thập nhị bích quái (nguyệt quái): là thuyết 12 quẻ ứng với 12 tháng. Mỗi một quẻ ứng với 2 tiết khí, 12 quẻ ứng với 24 tiết khí.

BÁT-QUÁI LỤC-VỊ tức NẠP-GIÁP

0

BÁT-QUÁI LỤC-VỊ tức NẠP-GIÁP

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

Dịch không đề-cập can chi nhưng thoán-từ quẻ Cổ có câu: “Tiến giáp tam nhật, hấu giáp tam nhật先甲三日,後甲三日” và hào-từ cửu-ngũ quẻ Tốn có câu: “Tiến canh tam nhật, hấu canh tam nhật先庚三日,後庚三日”. Giả thác tên ngày để thủ nghiã. Ngũ-hành-gia có thuyết Nạp-giáp: lấy 10 can mà nạp vào quẻ. Sở dĩ gọi là nạp-giáp, bởi vì giáp đúng đầu hàng can. Các nhà Điạ-lý và Tu-dưỡng cũng hay dùng thuyết này. Đại để thuyết này có trước thời Tần-Hán. Có hai phép nạp-giáp:

  1. Nạp-giáp Kinh-quái tức quẻ đơn:
Quẻ Kiền Khôn Cấn Đoái Khảm Ly Chấn Tốn
Nạp Giáp Ất Bính Đinh Quý Nhâm Canh Tân

                  Bảng 5.16 Bảng Nạp-Giáp Kinh-quái

  1. Nạp-giáp Biệt-quái của Kinh Phòng:
Quẻ Kiền Khôn Cấn Đoái Khảm Ly Chấn Tốn
Nạp Giáp

Nhâm

Ất

Quý

Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân

                Bảng 5.17 Bảng Nạp-Giáp Biệt-quái

Vì có 10 can mà chỉ có 8 quẻ đơn, nên mậu, kỷ không nạp. Mặt khác, vì Biệt-quái dùng để phân-bố cho cả Hồn-thiên Giáp-tí gồm trọn 60 hoa-giáp, nên bó buộc phải nạp cả 10 can. Cho nên Kiền Khôn mới nạp Giáp Ất ở nội-quái và nạp Nhâm Quý ở ngoại-quái. Vì hai quẻ Kiền Khôn là phụ-mẫu nên mới nạp cả 4 can thủ vỹ vậy.

Để đừng lẫn lộn hai phép nạp-giáp cho quẻ đơn và quẻ kép ta có thể nhớ rằng với quẻ đơn: “Chấn canh, Tốn tân, Ly nhâm, Khảm quý”.

Còn với quẻ kép ta có bài ca:

Lục hào nạp giáp nhớ hoài,

Kiền, Khôn Giáp Ất, Cấn Đoài Bính Đinh.

Khảm Ly Mậu Kỷ nên tình,

Còn như Chấn Tốn nạp minh Canh Tân.

Kiền Khôn Nhâm Quý thêm lần.

Hình 5.030 Sáng Trăng Vơi Đầy (3B, tr. 29) 

Hình 5.030 gồm 5 vòng tròn đồng-tâm chia thành 6 góc sáu (600), kể từ trong ra ngoài là:

  1. Tuần trăng;
  2. Sáu quẻ: chấn , đoài , kiền , Tốn , cấn , khôn ;
  3. Sáu ngày: mùng ba, mùng tám, rằm, mười tám, hăm ba, ba mươi (hối);
  4. Sáu câu tả tình-trạng động-tĩnh: a) Dương dĩ tam lập, tam nhật chấn-động (Dương dùng 3 để xây-dựng, mùng 3 chấn-động); b) Âm dĩ bát thông, bát nhật đoài hành (Âm dùng 8 để hanh-thông, mùng 8 đoài đi); c) Tam ngũ đức tựu, kiền thể nãi thành (3 x 5 = 15: ngày rằm đức thành việc); d) Tốn kế kỳ thống, nhân tế thao-trì (Tốn tiếp-tục hệ-thống, nhân giúp đỡ mà thao-luyện, tu-trì); e) Cấn chủ tiến chỉ, điển thủ huyền kỳ (Cấn chủ ngừng tiến, cầm trịch trăng lưỡi liềm); f) Lục-ngũ khôn thừa, kết quát chung thuỷ (5 x 6 = 30: khôn tiếp theo để đạt chung-thủy);
  5. Hào-từ quẻ Kiền: a) Sơ-cửu tiềm long (Sơ-cửu: Rồng ẩn); b) Cửu-nhị hiện long (Cửu nhị: Rồng hiện); c) Cửu tam tịch dịch (Cửu-tam: Sợ-sệt); d) Cửu-tứ Hoặc dược (Cửu-tứ: Nhẩy trên vực); e) Củu-ngũ Phi long (Cửu-ngũ: Rồng bay); f) Thượng-cửu Kháng long (Thượng-cửu: Rồng lên cao quá).

Hình 5.031 Nạp-giáp Quẻ Đơn (5AD, tr. 196-7)

Mùng 3 sinh phách, nhật nguyệt xuất canh: quẻ chấn ‘, can canh.

Mùng 8 (thượng-huyền), nhật nguyệt kiến đinh: quẻ đoài #, can đinh.

Mười lăm, trăng tròn, nguyệt doanh giáp, nhâm: quẻ kiền !, can giáp, nhâm.

Mười sáu trăng khuyết, nhật nguyệt lui về tân: quẻ tốn ), can tân.

Hăm ba (hạ-huyền), nhật nguyệt tiêu bính :  quẻ cấn -,can  bính.

Ba mươi không trăng, nhật nguyệt diệt ất, quý: quẻ khôn /, can ất, quý.

Ngày sóc (mùng một), khảm +lưu mậu; nhật-trung, mặt trời sáng, ly %tượng hoả, tựu tỵ.

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 14

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 14

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Theo Hổn Thiên Nạp Giáp thì:
Càn nạp Giáp Nhâm, Khôn nạp Ất Quý, Đoài nạp Đinh, Cấn nạp Bính, Tốn nạp Tân, Chấn nạp Canh, Khãm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ.
Nhưng vì Mậu Kỷ ẩn trung cung, cho nên trong Phong Thủy, Ly Hậu Thiên tại Càn Tiên Thiên, nên Ly nạp Nhâm, Khãm Hậu Thiên tại Khôn Tiên Thiên , nên Khãm nạp Quý vậy.

Kết quả ta có 8 quẻ nạp Giáp như sau:
Càn Giáp, Khôn Ất, Khãm Quý, Ly Nhâm, Cấn Bính, Đoài Đinh, Chấn Canh, Tốn Tân.
Kết hợp với Tam hợp cục Thân Tí Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi và tiên thiên bát quái phối lạc số thì ta có như sau:
Thân Tí Thìn Thủy Cục, Tí là quẻ Khãm Hậu Thiên, cho nên Thân Tí Thìn và Quý đều là Khãm 7
Dần Ngọ Tuất Hỏa Cục, Ngọ là quẻ Ly Hậu Thiên, cho nên Dần Ngọ Tuất và Nhâm đều là Ly 3
Tỵ Dậu Sửu Kim Cục, Dậu là quẻ Đoài Hậu Thiên, cho nên Tỵ Dậu Sửu và Đinh đều là Đoài 4
Hợi Mão Mùi Mộc Cục, Mão là quẻ Chấn Hậu Thiên, cho nên Hợi Mão Mùi và Canh đều là Chấn 8
Như vậy Khãm Ly Chấn Đoài quẻ bao gồm 16 sơn, còn lại 8 sơn:
Càn Giáp thuộc Càn 9
Khôn Ất thuộc Khôn 1
Cấn Bính thuộc Cấn 6
Tốn Tân thuộc Tốn 2


Như vậy căn cứ vào Nạp Giáp và Tiên Thiên phối Lạc Số, các sơn có số như sau:

Nhâm 3, Tí 7, Quý 7
Sửu 4, Cấn 6, Dần 3
Giáp 9, Mão 8, Ất 1
Thìn 7, Tốn 2, Tỵ 4
Bính 6, Ngọ 3, Đinh 4
Mùi 8, Khôn 1, Thân 7
Canh 8, Dậu 4, Tân 2
Tuất 3, Càn 9, Hợi 8

Các số của 24 sơn phối với số của Tọa sơn hoặc số Cung Phi sẻ cho ra Bát San của 24 sơn như Bát Trạch vậy.
Lấy Sơn Càn 9 tọa phối số của các sơn thì cho ra thứ tự như lão Đế đã viết:

Nhâm-Tuyệt, Tí-Lục, Quý-Lục, Sửu-Tham, Cấn-Cự, Dần-Tuyệt, Giáp-Phụ bật, Mão-Liêm, Ất-Vũ, Thìn-Lục, Tốn-Lộc, Tỵ-Tham, Bính-Thiên, Ngọ-Tuyệt, Đinh-Tham, Mùi-Ngũ, Khôn-Vũ, Thân-Lục, Canh-Ngũ, Dậu-Tham, Tân-Họa, Tuất-Tuyệt, Càn-Phụ bật, Hợi-Ngũ

Nhâm 3 + Càn 9 = 2&8 Tuyệt Mạng
Tí 7 + Càn 9 = 4&6 Lục Sát
Quý 7 + Càn 9 = 4&6 Lục Sát
Sửu 4 + Càn 9 = Sinh Khí Tham Lang
Cấn 6 + Càn 9 = 5 Thiên Y Cự Môn,
vv……

Nếu toạ là cung Khãm 7 (Tí Sơn) thì
Nhâm 3 + Khãm 7 = 10 Diên Niên
Tí 7 + Khãm 7 = Phục Vị
vv…..

Tổng hợp từ Huyền Không Lý Số

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 13

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 13

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Huỳnh Tuyền còn gọi là Hoàng Tuyền, là suối vàng.
Tuyền là suối là thủy. Hoàng Tuyền có nhiều loại, nhưng chính thì có Bát Sát Hoàng Tuyền và Tứ Lộ Hoàng Tuyền đa số ứng dụng vào Âm Trạch.

Bát Sát Hoàng Tuyến căn cứ vào hào Quan Quỷ, tức thuộc ngũ hành khắc ta (ta ở đây là quẻ bát thuần).
Tứ lộ Hoàng Tuyền thì có hai loại Sát Nhân và Cứu Bần.

Hoàng Tuyền Bát Sát:
Khãm Long (Thìn), Khôn Thố (Mão), Chấn sơn Hầu (Thân)
Tốn Kê (Dậu), Kiền Mã (Ngọ), Đoài Xà (Tỵ) đầu
Cấn Hổ (Dần), Ly Trư (Hợi), vi Sát Diệu
Phạm chi Trạch Mộ, nhất tề hưu.

Tứ Lộ Sát Nhân Hoàng Tuyền:
Canh Đinh Khôn thượng thị Hoàng Tuyền
Ất Bính tu (cần phải) phòng (đề phòng) Tốn Thủy tiên
Giáp Quý hướng thượng hưu (chớ nên) kiến Cấn
Tân Nhâm Thủy lộ phạ (sợ) đương Kiền

Tứ Lộ Cứu Bần Hoàng Tuyền:
Đinh Khôn chung (rốt cuộc) thị (là) vạn Tư Sưong (kho riêng)
Ất hướng Tốn lưu thanh (nước trong chảy) phú quý
Quý quy (về) Cấn hộ phát Văn Chương
Tân nhập Càn trung bách bạn trang (nhà tiệm).

杀人黄泉
Sát Nhân Hoàng Tuyền

立壬向,右水倒左从向左乾方去水,� �破向上临官位,为杀人大黄泉。
Lập Nhâm Hướng, Hửu Thủy đảo Tả tòng Hướng Tả Càn phương khứ Thủy, xung phá hướng thượng Lâm Quan vị, vi Sát Nhân Đại Hoàng Tuyền.

救贫黄泉
Cứu Bần Hoàng Tuyền

立壬向,为水局旺向,左水倒右从乾� �临官位来水,为救贫黄泉。
Lập Nhâm Hướng, vi Thủy cục vượng hướng, Tả lai đảo hửu tòng Càn phương Lâm Quan vị lai thủy, vi Cứu Bần Hoàng Tuyền!!!

Phong thủy lưu hành trong dân gian “bát sát hoàng tuyền” hay “phóng thuỷ pháp” có khẩu quyết:

“canh đinh khôn thượng thị hoàng tuyền
khôn hướng canh đinh bất khả ngôn
tốn hướng kị hành ất bính thượng
ất bính tu phòng tốn thủy tiên
giáp quý hướng trung ưu kiến cấn
cấn hướng tu tri giáp quý hiềm
kiền hướng tân nhâm hành bất đắc
tân nhâm thủy lộ phạm đương kiền”

Câu khẩu quyết 1: “canh đinh khôn thượng thị hoàng tuyền, khôn hướng canh đinh bất khả ngôn”.

* LẬP CỬA CÁT HƯỚNG (SINH, LQ , LQ, VƯỢNG, DƯỠNG)
+ Nếu khai môn, lập cửa Hướng CANH: (cửa ở phương vị hướng Canh) là vượng hướng của KIM cục thì Lâm Quan ở Cung Khôn/Thân (số 4 bảng trên) -> Nước/Thủy của cung Lâm Quan phải chảy lại (Lai thủy/Triều lai) thì mới đắc cát hay nói cách khác là đem lại Vượng khí cho cửa cái. Còn nếu nước ở cung này chảy đi là thủy phá Lâm Quan sẽ bị hung hại đó là phạm Hoàng Tuyền (Vượng khí thoát đi, nên ngôi nhà mất sinh/vượng khí -> Hung hại -> Hoàng Tuyền).

+ Nếu Lập cửa ở Đinh Hướng (cửa cái ở hướng vị là đinh sơn) là Dưỡng hướng của thủy cục, thì trường sinh ở cung Khôn/Thân (số 1 bảng trên); phương khôn/thân thủy phải triều lai/ chảy đến thì đem lại sinh khí cho cửa và ngôi nhà. Nếu ở cung Khôn/thân là nơi phòng thủy hay thủy/nước chảy đi thì gọi là thủy phá sinh phương, sẽ lâm tai họa, tức phạm Hoàng tuyền (Thủy chảy đi tại phương Khôn/Thân sẽ đem sinh khí (thực chất là khí tốt: dưỡng khí) của cửa và của ngôi nhà ra đi mất -> nhà mất sinh khí/cát khí -> Hung hại -> Hoàng Tuyền).

+ Nếu cửa ở Đinh Hướng (cửa cái ở hướng vị là đinh sơn) là Quan Đới hướng của KIM cục, thì Lâm Quan ở cung Khôn/Thân (số 4 bảng trên); phương khôn/thân thủy phải triều lai/ chảy đến thì đem lại sinh khí cho cửa và ngôi nhà. Nếu ở cung Khôn/thân là nơi phòng thủy hay thủy/nước chảy đi thì gọi là thủy phá sinh phương, sẽ lâm tai họa, tức phạm Hoàng tuyền (Lâm Quang khí thoát đi kéo theo cả Quan Đới khí của cửa/môn , nên ngôi nhà mất sinh/vượng khí –> Hung hại –> Hoàng Tuyền).

* LẬP CỬA SUY HƯỚNG
+ Nếu khai môn, lập cửa Hướng CANH: (cửa ở phương vị hướng Canh) là TỬ hướng của HỎA cục thì Bệnh ở cung Khôn/Thân (số 7 bảng trên) -> Nước/Thủy của cung Bệnh phải phóng đi (khứ thủy) thì mới đắc cát hay nói cách khác là đem lại tử khí đi ra ngoài. Còn nếu nước ở cung Khôn chảy đến sẽ bị “Bệnh thủy nhập đường” sẽ bị hung hại đó là phạm Hoàng Tuyền (Bệnh khí thoát đi kéo theo cả Tử khí tại cửa/Môn, nên ngôi nhà mất Bệnh/Tử khí -> CÁT; Còn nếu thủy lai dẫn đến Bệnh khí kết hợp với tử khí tại phương cửa tràn ngập đầy nhà -> Hung hại -> Hoàng Tuyền).

+ Nếu cửa ở Đinh Hướng (cửa cái ở hướng vị là đinh sơn) là MỘ hướng của MỘC cục (số 9), thì Tuyệt ở cung Khôn/Thân (số 10 bảng trên); phương khôn/thân thủy phải phóng đi/thủy khứ/chảy đi, nếu không sẽ bị “TUYỆT thủy nhập đường” sẽ gặp hung hại, đó gọi là phạm Hoàng Tuyền. (Tuyệt khí thoát đi kéo theo cả Mộ khí tại cửa/Môn, nên ngôi nhà mất Tuyệt/Mộ khí -> CÁT; Còn nếu thủy lai dẫn đến TUYỆT khí kết hợp với mộ khí tại cửa tràn ngập đầy nhà -> Hung hại -> Hoàng Tuyền).

Câu khẩu quyết 2: “Tốn hướng kị hành ất bính thượng, ất bính tu phòng tốn thủy tiên, Ất bính tu phòng tốn thủy tiên”

* LẬP CỬA CÁT HƯỚNG (SINH, LQ , LQ, VƯỢNG, DƯỠNG)
+ Nếu cửa lập hướng TỐN là Lâm quan hướng HỎA cục (số 4) thì Đế vượng tại phương Bính (số 5), nên nước/thủy tại phương Bính/ngọc phải triều lai mới tốt -> Nước/Thủy của cung Đế vượng phải chảy lại (Lai thủy/Triều lai) thì mới đắc cát hay nói cách khác là đem lại Vượng khí cho cửa cái. Lâm quan khí cửa cái hướng Tốn do cát khí phương bính hỗ trợ – nên nó thúc đẩy dương khí của hướng giao hợp với âm khí phương Tọa -> chuyển hóa âm dương tốt -> căn nhà cát là vậy; nếu nước ở phương Bính/ngọ phóng đi là “thủy phá Đế vượng”, tất phạm Hoàng tuyền. (Cát khí Đế vượng thoát đi cùng với lâm quan khí tại Tốn, nên ngôi nhà mất sinh/vượng khí -> Hung hại -> Hoàng Tuyền).

+ Nếu cửa lập hướng BÍNH là vượng hướng HỎA cục (số 5) thì Lâm Quan tại phương Tốn (số 4), nên nước/thủy tại phương Tốn/Tỵ phải triều lai mới tốt -> Nước/Thủy của cung Lâm Quan phải chảy lại (Lai thủy/Triều lai) thì mới đắc cát hay nói cách khác là đem lại Vượng khí cho cửa cái. Vượng khí cửa cái hướng bính do cát khí phương tốn hỗ trợ – nên nó thúc đẩy dương khí của hướng giao hợp với âm khí phương Tọa -> chuyển hóa âm dương tốt -> căn nhà cát là vậy; nếu nước ở phương tốn/Tỵ phóng đi là “nước phá Lâm quan”, tất phạm Hoàng tuyền. (Cát khí Lâm quan thoát đi cùng với vượng khí tại Bính, nên ngôi nhà mất sinh/vượng khí -> Hung hại -> Hoàng Tuyền).

* LẬP CỬA SUY HƯỚNG
+ Nếu lập cửa hướng TỐN là BỆNH hướng của MỘC cục thì TỬ thủy ở phương Bính (số TT 8) -> Phương Bính phải phóng thủy đi mới tốt, Nếu thủy lai tại phương Bính thì thủy sẽ đưa Tử khí ở phương Bính kết hợp với Bệnh khí tại cửa hướng Tốn vào nhà; làm cho nhà đầy suy khí & phương hướng của ngôi nhà toàn khí âm (/tử khí) (mà hướng cần phải có dương khí để kết hợp với âm khí phương tọa của căn nhà thì âm dương mới cân bằng và có chuyển hóa âm dương giữa sơn hướng -> mới có 1 căn nhà tốt) -> Âm dương tọa hướng không giao hợp được -> Phạm hoàng tuyền.

+ Nếu lập cửa hướng Ất là Mộ hướng của THỦY cục thì TUYỆT thủy ở phương tốn (số TT 10) -> Phương Tốn phải phóng thủy đi mới tốt, Nếu thủy lai tại phương tốn thì thủy sẽ đưa Tuyệt khí ở phương tốn kết hợp với mộ khí tại cửa hướng Ất vào nhà; làm cho nhà đầy suy khí & phương hướng của ngôi nhà toàn khí âm (mà hướng cần phải có dương khí để kết hợp với âm khí phương tọa của căn nhà thì âm dương mới cân bằng và có chuyển hóa âm dương giữa sơn hướng -> mới có 1 căn nhà tốt) -> Âm dương tọa hướng không giao hợp được -> Phạm hoàng tuyền.

TỨ LỘ và BÁT LỘ HOÀNG TUYỀN

Hoàng tuyền do Bát Can và Tứ Duy hợp thành.
Bát Can là Canh-Đinh; Ất-Bính; Giáp-Quý; Tân-Nhâm.

Tứ Duy là Khôn-Cấn-Tốn-Càn 4 phương vị này gọi là Tứ lộ Hoàng tuyền.

Hoàng tuyền sát tại 4 hướng xung quanh phương vị Bát Can gọi Bát lộ Hoàng tuyền.

1) Canh-Đinh Khôn thượng thị Hoàng tuyền.
– Âm-Dương trạch hướng Canh-Đinh. Khôn là phương vị Hoàng tuyền sát, kị nước thoát ra.

2) Khôn hướng Canh-Đinh bất khả ngôn.
– Âm-Dương trạch hướng Khôn. Canh -Đinh là phương vị Hàng tuyền sát, kị nước thoát ra.

3) Ất-Bính tu phòng Tốn thủy tiên.
– Âm-Dương trạch hướng Ất-Bính. Tốn là phương vị Hoàng tuyền sát, kị nước thoát ra.

4) Tốn hướng Ất-Bính họa diệc nhiên.
– Âm-Dương trạch hướng Tốn. Ất-Bính là phương vị Hoàng tuyền sát, kị nước thoát ra.

5) Giáp-Quý hướng trung ưu kiến Cấn.
– Âm-Dương trạch hướng Giáp-Quý. Cấn là phương vị Hoàng tuyền sát, kị nước thoát ra.

6) Cấn kiến Giáp-Quý hung bá niên.
– Âm-Dương trạch hướng Cấn. Giáp-Quý là phương vị Hoang tuyền sát, kị nước thoát ra.

7) Tân-Nhâm thủy lộ phạ đương Càn.
– Âm-Dương trạch hướng Tân-Nhâm. Càn là phương vị Hoàng tuyền sát, kị nước thoát ra.

8) Càn hướng Tân-Nhâm họa mạn thiên.
– Âm-Dương trạch hướng Càn. Tân-Nhâm là phương vị Hoàng tuyền sát, kị nươc thoát ra.

– Có người cho rằng Hoàng tuyền sát chỉ xấu với Khứ thủy (nước thoát ra), nhưng lại tốt với Lai thủy ( nước chảy đến ).
– Vì các phương Hoàng tuyền đều ở vị trí Lâm quan-Đế vượng. Vượng phương có Lai thủy sẽ là Vượng thủy, đương nhiên là tốt rồi!
– Thế nhưng không ít người cho rằng đã là sát thì bất kể Lai thủy hay Khứ thủy đều là hung vậy.
– Các loại sát trong phong thủy, không nhứt định phải có sát là ắt có họa.
– Sinh ra họa cần có các điều kiện phối hợp, đơn giản cần phải có Sát vị (vị trí sát); Sát vật ( sự vật sát ) cùng không gian, thời gian để xảy ra tai họa.
– Căn cứ theo bài viết trên, thì nhà nhà đều có hướng Hoàng tuyền sát.
– Mỗi một rãnh nước, góc nhà, góc tường, lầu gác, đà xiên đều là Sát vị hay Sát vật, đến lúc Đô thiên nhứt đáo thì mới đủ điều kiện xãy ra.

TỨ ĐẠI THỦY KHẨU

Gọi Tứ Đại Thủy Khẩu tức là 24 sơn chia thành 4 cục:

1) Thủy khẩu tại 6 sơn : Tân-Tuất-Càn-Hợi-Nhâm-Tí là Hỏa cục.
* Hỏa cục Trường sinh tại Dần. Đế vượng tại Ngọ. Mộ khố tại Tuất.
* Dần-Ngọ-Tuất : Sinh-Vượng-Mộ tam hợp thành Hỏa cục.

2) Thủy khẩu tại 6 sơn : Ất-Thìn-Tốn-Tỵ-Bính-Ngọ là Thủy cục.
* Thủy cục Trường sinh tại Thân. Đế vượng tại Tí. Mộ khố tại Thìn.
* Thân-Tí-Thìn : Sinh-Vượng-Mộ tam hợp thành Thủy cục.

3) Thủy khẩu tại 6 sơn : Quý-Sửu-Cấn-Dần-Giáp-Mẹo là Kim cục.
* Kim cục Trường sinh tại Tỵ. Đế vượng tại Dậu. Mộ khố tại Sửu.
* Tỵ-Dậu-Sửu : Sinh-Vượng-Mộ tam hợp thành Kim cục.

4) Thủy khẩu tại 6 sơn : Đinh-Mùi-Khôn-Thân-Canh-Dậu là Mộc cục.
* Mộc cục Trường sinh tại Hợi. Đế vượng tại Mẹo. Mộ khố tại Mùi.
* Hợi-Mẹo-Mùi : Sinh-Vượng-Mộ tam hợp thành Mộc cục.

HOÀNG TUYỀN KIẾT HUNG
(Dùng cho Âm-Dương trạch)

1)Canh-Đinh Khôn thượng thị Hoàng tuyền.

– Canh hướng Khôn lai Kiết. Khôn khứ Hung.
– Đinh hướng Khôn khứ Kiết. Khôn lai Hung.
– Xuất Thìn, Đinh lai Kiết.
– Xuất Đinh Khôn lai Hung.

2) Ất-Bính tu phòng Tốn thủy tiên.

– Bính hướng Tốn lai Kiết. Tốn khứ Hung.
– Ất hướng Tốn khứ Kiết. Tốn lai Hung.
– Xuất Sửu, Ất lai Kiết.
– Xuất Ất, Tốn lai Hung.

3) Giáp-Quý hướng trung ưu kiến Cấn.

– Giáp hướng Cấn lai Kiết. Cấn khứ Hung.
– Quý hướng Cấn khứ Kiết. Cấn lai Hung.
– Xuất Tuất, Quý lai Kiết.
– Xuất Quý, Cấn lai Hung.

4) Tân-Nhâm thủy lộ phạ đương Càn.

– Nhâm hướng Càn lai kiết. Càn khứ Hung.
– Tân hướng Càn khứ Kiết. Càn lai Hung.
– Xuất Mùi, Tân lai Kiết.
– Xuất Tân, Càn lai Hung.

– Đoạn này dùng 3 hướng Sinh-Vượng-Mộ để giải thích. Ngoài ra cần phải hiểu rõ ý nghĩa của Tứ đại thủy khẩu.
– Sau khi phân biệt được Tứ đại thủy khẩu, mới có thể sáng tỏ hoàn toàn nội dung của đề mục trên.

Vòng trường sinh:
Cách tính vòng trường sinh, khởi thuận hành:

– Tam hợp Kim cục (Sinh-Vượng-Mộ): Tốn/Tỵ – Canh/Dậu – Quý/Sửu
– Tam hợp Thủy /Thổ cục(Sinh-Vượng-Mộ): Canh/Thân – Nhâm/Tí – Ất/Thìn
– Tam hợp Mộc cục (Sinh-Vượng-Mộ): Càn/Hợi – Giáp/Mão – Đinh/Mùi
– Tam hợp Hỏa cục (Sinh-Vượng-Mộ): Cấn/Dần- Bính/Ngọ – Tân/Tuất

kết hợp Tam hợp 24 sơn & trường sinh: Mỗi giai đoạn của vòng trường sinh, có 2 sơn hướng, trọn vòng trường sinh (từ Trường sinh->Dưỡng) đủ 24 sơn hướng. Chỉ có 8 Thiên can, và tứ (4) duy là phạm hoàng tuyền, còn địa chi không phạm.
Theo LÝ-KHÍ của vòng trường sinh thì:

* GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH hợp với MÃO, DẬU, TÍ, NGỌ ở 4 PHƯƠNG CHÍNH tạo thành bốn phương vừa VƯỢNG (tại số 5 của bảng trên) vừa TỬ(số 8) cho 4 đại cục.

* ẤT, TÂN, QUÝ, ĐINH hợp với THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI ở 4 PHƯƠNG BÀNG (tứ duy) tạo thành bốn phương vừa MỘ (số 9 trên bảng trên) vừa DƯỠNG (số 12) cho 4 đại cục.

* CÀN, KHÔN, TỐN, CẤN hợp với HỢI, THÂN, TỴ, DẦN ở 4 PHƯƠNG BÀNG (tứ duy) tạo thành bốn phương vừa SINH (số 1 trên bảng trên) vừa TUYỆT (số 10) cho 4 đại cục.
+ Dần, Thân, Tỵ, Hợi là tứ SINH; Tí, Ngọ, Mão, Dậu là tứ VƯỢNG & Thìn, tuất, Sửu, Mùi là tứ MỘ!.
+ Trong Phong thủy cho vòng trường sinh thì: Trường sinh, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng và Dưỡng có tính chất tốt đẹp/Cát.

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 12

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 12

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Vận 8
8 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
4 5 6 7 8 9 1 2 3
3 2 1 9 8 7 6 5 4
——————-
7 7 7 7 7 7 7 7 7

Thì ta có 4 cập số
1) 34, 43
33=6, cho ta 87
44=8, cho ta 89
2) 25, 52
22=4, cho ta 85
55=0, cho ta 82
3) 16, 61
11=2, cho ta 83
66=3, cho ta 84
4) 79, 97
77=5, cho ta 86
99=9, cho ta 81


Như vậy các cung đắc các tinh số mang vào trung cung thuận nghịch phi sẻ có các cập số như sau:
1: 11=2, cho ta 38 (Thuận Phi), 83 (Nghịch Phi)
2: 22=4, cho ta 58, 85
3: 33=6, cho ta 78, 87
4: 44=8, cho ta 98, 89
5: 55=0, cho ta 28, 82
6: 66=3, cho ta 48, 84
7: 77=5, cho ta 68, 86
9: 99=9, cho ta 18, 81

Như vậy thấy rằng bất cứ ở vận nào, khi đêm các tinh số của các cung vào trung cung thuận nghịch phi thì vận số củng chỉ ở Tọa hoặc Sơn thôi, và vận số sẻ kết hợp với các sô để có tổng bằng trùng số của tinh số tại cung đó trong vận!

Như vậy không cần tính nhiều ta biết trong vận 9 sẻ có các cục như sau:
19, 91 = 0 (5)
29, 92 = 2
39, 93 = 3
49, 94 = 4
59, 95 = 5
69, 96 = 6
79, 97 = 7
89, 98 = 8
Như vậy tinh số 5 ở cung nào đó sẻ có tọa hướng là 19, hoặc 91 tùy theo thuận phi hay nghịch phi.
Tinh số 8 sẻ cho cập 89, hoặc 98, tùy theo thuận nghịch phi!

Ta có thể thấy rằng mỗi vận cho ta 8 cập số (hay 16 cục), và trong 8 cập sẻ tạo ra 4 trường hợp tốt là hợp 10, hợp 5, hợp sinh thành, và hợp thông quái.

Cho nên xác suất của sự tốt xấu chia đều 50/50!!!

Tây Trạch Càn Khôn không biến, Cấn Đoài biến Hào Thượng Hạ
991 > 991
111 > 111
661 > 863
441 > 243
Đông Trạch Khãm Ly không biến, Chấn Tốn biến Hào Thượng Hạ
771 > 771
331 > 331
881 > 683
221 > 423
Kết hợp thành
[2][9][4]
[3][5][7]
[6][1][8]

Tây Trạch Cấn Đoài không biến, Càn Khôn biến Hào Thượng Hạ
991 > 793
111 > 313
661 > 661
441 > 441
Đông Trạch Chấn Tốn không biến, Khãm Ly biến Hào Thượng Hạ
771 > 973
331 > 133
881 > 881
221 > 221
Kết hợp thành
[4][7][2]
[1][5][9]
[8][3][6]

[2][9][4] [4][7][2]
[3][5][7] [1][5][9]
[6][1][8] [8][3][6]

Mà 4 phương 8 hướng đều hợp Thông Quái!!!

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 11

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 11

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
VÌ SAO LIÊN THÀNH = SINH THÀNH : VÌ ĐẢO BÀI SƠN THỦY ĐỀU THEO SINH THÀNH (SINH TRƯỞNG – THÀNH HOẠI).



Vận 2
[3][8][1]
[4][5][6]
[9][2][7]
Hoán thành
[1][8][3]
[4][5][6]
[7][2][9]

Vận 3
[2][7][4]
[1][5][9]
[6][3][8]
Hoán thành
[4][7][2]
[1][5][9]
[8][3][6]


Vận 4
[1][6][3]
[2][5][8]
[7][4][9]
Hoán Thành
[3][6][1]
[2][5][8]
[9][4][7]

Vận 6
[9][4][7]
[8][5][2]
[3][6][1]
Hoán thành
[7][4][9]
[8][5][4]
[1][6][3]

Vận 7
[8][3][6]
[9][5][1]
[4][7][2]
Hoán thành
[6][3][8]
[9][5][1]
[2][7][4]

Vận 8
[7][2][9]
[6][5][4]
[1][8][3]
Hoán thành
[9][2][7]
[6][5][4]
[3][8][1]

Vận 9
[6][1][8]
[7][5][3]
[2][9][4]
Hoán thành
[8][1][6]
[7][5][3]
[4][9][2]

Bí quyết chính là ở Gió Núi đổi Trạch Chấn, hoán vị đổi hệ chuyển tông biến tượng thành

Bài Toán Phi Tinh
1 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[92][56][74]
[83][11][38]
[47][65][29]
2 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[13][67][85]
[94][22][49]
[58][76][31]
3 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[24][89][17]
[15][33][51]
[69][87][42]
4 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[35][89][17]
[26][44][62]
[71][98][53]
5 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[46][91][28]
[37][55][73]
[82][19][64]
6 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[57][12][39]
[48][66][84]
[93][21][75]
7 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[68][23][41]
[59][77][95]
[14][32][86]
8 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[79][34][52]
[61][88][16]
[25][43][97]
9 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
[81][45][63]
[72][99][27]
[36][54][18]

Qua 9 cái bản này thấy gì?
1 nhập trung thì ta có 11 ở giữa tức là 1+1 = 2, thì 8 cung còn lại đều có tổng các con số là 2, như
65, 56: 6+5=1+1 = 2,
29, 92: 2+9=1+1 = 2,
38, 83: 3+8=1+1 = 2,
74, 47: 4+7=1+1 = 2!

7 nhập trung thì ta có 77 ở giừa tức là 7+7 = 1+4 = 5, vậy thì 8 cung lại đều có tổng các con số là 5, như
32, 23: 2+3= 5,
86, 68: 6+8=1+4 = 5,
95, 59: 5+9=1+4 = 5,
41, 14: 1+4= 5!

Cửu cung bay theo lường thiên xích chẳng qua là một cây thước 9 bực mà xê dịch tùy theo số!
Nay thử bày cây thước này xem:
1 nhập trung, tức là 1 ở giữa cây thước tại điếm 5, 5 lùi 4 mà thành1, vậy toàn cây thước 9 bực này đều có khoảng cách là -4 vậy:
1 2 3 4 5 6 7 8 9
6 7 8 9 1 2 3 4 5

7 nhập trung thì ta có, tức là 5 tiến 2 thành 7, tức là mỗi bực +2
1 2 3 4 5 6 7 8 9
3 4 5 6 7 8 9 1 2

Như vậy 9 cái bản trên củng có thể bày ra như sau:
1 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
6 7 8 9 1 2 3 4 5
5 4 3 2 1 9 8 7 6
——————-
2 2 2 2 2 2 2 2 2 (Cộng các con số thuận nghịch lại)

2 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
7 8 9 1 2 3 4 5 6
6 5 4 3 2 1 9 8 7
——————-
4 4 4 4 4 4 4 4 4

3 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
8 9 1 2 3 4 5 6 7
7 6 5 4 3 2 1 9 8
——————-
6 6 6 6 6 6 6 6 6

4 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
9 1 2 3 4 5 6 7 8
8 7 6 5 4 3 2 1 9
——————-
8 8 8 8 8 8 8 8 8

5 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
1 2 3 4 5 6 7 8 9
9 8 7 6 5 4 3 2 1
——————-
0 0 0 0 0 0 0 0 0 (0 là 10)

6 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
2 3 4 5 6 7 8 9 1
1 9 8 7 6 5 4 3 2
——————-
3 3 3 3 3 3 3 3 3

7 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
3 4 5 6 7 8 9 1 2
2 1 9 8 7 6 5 4 3
——————-
5 5 5 5 5 5 5 5 5

8 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
4 5 6 7 8 9 1 2 3
3 2 1 9 8 7 6 5 4
——————-
7 7 7 7 7 7 7 7 7

9 Nhập Trung Thuận Nghịch Phi
1 2 3 4 5 6 7 8 9
——————-
5 6 7 8 9 1 2 3 4
4 3 2 1 9 8 7 6 5
——————-
9 9 9 9 9 9 9 9 9

Như vậy ta thấy như sau
Vận 1, 11 = 1+1 = 2
Vận 2, 22 = 2+2 = 4
Vận 3, 33 = 3+3 = 6
Vận 4, 44 = 4+4 = 8
Vận 5, 55 = 5+5 = 0 (10)
Vận 6, 66 = 6+6 = 1+2 = 3
Vận 7, 77 = 7+7 = 1+4 = 5
Vận 8, 88 = 8+8 = 1+6 = 7
Vận 9, 99 = 9+9 = 1+8 = 9

Từ đó ta củng có thể tính nhẫm cho bất cứ Sơn Hướng nào mà không cần bày cả 9 tinh, chỉ cân nhớ là tổng của cập số trùng nhập trung cung là bao nhiêu!
Như vận 8 thì 88 nhập trung tổng là 8+8=16=1+6=7!
Sơn đắt 3 thì chắc chắn Hướng đắt 4, Sơn đắt 7 thì hướng đắt 9 (9+7=1+6=7).

Một nguyên tắc bất di bất dịch là:
Nếu Vận là Thuận Phi, thi bất kỳ số ở cung nào nhập trung cung Nghịch Phi thì vận số (tại trung cung) sẻ phi đến cung đó, mà Thuận Phi thì vận số (tại trung cung) đến cung đối!
Nếu Vận là Nghịch Phi, thì bất kỳ số ở cung nào nhập trung cung Thuận Phi thì vận số (tại trung cung) sẻ phi đến cung đó, mà Nghịch Phi thì vận số (tại trung cung) đến cung đối!

Nay Sơn đắc 3 hướng đắc 4 vậy bỏ 3 vào trung cung thì là 33= 6, vận 8 bỏ 3 vào nghịch phi thì 8 đến cung của 3, vậy cung đối sẻ là 7 (8+7=1+5=6), tức sơn 8 hướng 7, thuận phi thì sơn 7 hướng 8 (tức 7 đến chổ 3 mà 8 đến cung đối)!

Dương Quân Tùng Tổ Sư hiểu rỏ bài toán thuận nghịch phi này nên mới bỏ bài toán này vào Khôn Nhâm Ất quyết.

Khôn Nhâm Ất Cự Môn Vận 2,
Nhâm Tí Quý đắc 7
Mùi Khôn Thân đắc 8
Giáp Mão Ất đắc 9
Bỏ 7, 8, 9 vào trung cung nghịch phi thì Khôn Nhâm Ất đều là 2 Cự vậy!

Cấn Bính Tân Phá Quân Vận 7
Sửu Cấn Dần đắc 1
Bính Ngọ Đinh đắc 2
Canh Dậu Tân đắc 9
bỏ 1,2, 9 vào trung cung nghịch phi thì Cấn Bính Tân đều là 7 Phá!

Tốn Thìn Hợi Vũ Khúc Vận 6
Thìn Tốn Tỵ đắc 5
Tuất Càn Hợi đắc 7
bỏ 5, 7 vào trung cung nghịch phi thì Tốn Thìn Hợi đều là 6 Vũ!

Giáp Quý Thân Tham Lang Vận 1
Giáp Mão Ất đắc 8
Nhâm Tí Quý đắc 6
Mùi Khôn Thân đắc 7
bỏ 6,7,8 vào trung cung nghịch phi thì Giáp Quý Thân đều là 1 Tham!

Nhưng mà theo bài toán trên thì chúng ta biết, bất cứ ở vận nào, tinh số ở bất cứ cung nào nhập trung cung nghịch phi thì vận tinh sẻ đến cung đó!!!

Có phải đây là một cái mẹo để lừa thế gian????
Tí Quý tịnh Giáp Thân Tham Lang củng vậy
Vận 1 đêm các tinh số ở Tí Quý Giáp Thân vào trung cung nghịch phi thì Tham 1 tự đến Tí Quý Giáp Thân.

Nhâm Mão Ất Mùi Khôn Cự Môn vận 2
Vận 2 đêm các tinh số ở Nhâm Mão Ất Mùi Khôn vào trung cung nghịch phi thì 2 Cự tự đến Nhâm Mão Ất Mùi Khôn!

Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ Tuất Vũ Khúc vận 6
Vận 6 đêm các tinh số ở Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ Tuất vào trung cung nghịch phi thì 6 Vũ sẻ tự đến Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ Tuất!

Bây giờ tiểu sinh nói Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ Tuất Tham Lang Nhất Lộ Hành củng được nè:
Vận 1 đêm các tinh số ở Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ Tuất vào trung cung nghịch phi thì Tham 1 củng tự đến Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ Tuất thôi!!!

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 10

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 10

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Tính Vận và Tượng trong Huyền Không 64 quái, cấp kỳ nhanh, chỉ nhìn qua là có thể biết được một trùng quái thuộc vận mấy, và tượng hậu thiên nào.
Nếu nhìn một quái mà không biết nó thuộc Vận mấy, quái tượng là gì thì thử hỏi làm sao nghiên cứu Huyền Không 64 quái đây? Hông lẻ cứ đem theo cái bảng liệt kê mỗi lần đọc sách, chiêm ngẫm hay sao?

Qua cách dùng số Tiên Thiên để tính Bát San (trong bài 1)
Khi cộng Lạc Số Thiên Thiên của thượng quái và hạ quái, hoặc quy tàng hào của thượng quái và hạ quái ta có các cách cục như sau:

Tổng số 1 & 9, Họa Hại, QT Chấn 8
Tống số 2 & 8, Tuyệt Mệnh, QT Khãm 7
Tổng số 3 & 7, Ngũ Quỷ, QT Tốn 2
Tổng số 4 & 6, Lục Sát, QT Ly


Bát Thuần, Phục Vị, QT Khôn 1
Hợp 5, Thiên Y, QT Đoài 4
Hợp 10, Diên Niên, QT Càn 9
Hợp Sinh Thành, Sinh Khí, QT Cấn 6

Ta biết Tiên Thiên Lạc Số của quẻ QT củng chính là Vận của quẻ, nhưng phương pháp quy tàng thì lại quá chậm, không thể nào nhìn một cái là biết được vận liền.

Để có thể tính nhanh hơn, thì chúng ta dùng con số 1 (của quẻ Khôn), để tính Vận. Khi tính nhiều thì sẻ thuộc không cần dùng tới nó nửa.

Cách tính Vận
Lấy số lớn hơn 2 để trừ cho 1
1&9, 9 – 1 = vận 8
2&8, 8 – 1 = vân 7
3&7, 3 – 1 = vận 2
4&6, 4 – 1 = vận 3
Phục Vị khỏi tính củng biết là vận 1
Thiên Y, hợp 5, 5 -1 = vận 4
Diên Niên, hợp 10, 10 – 1 = 9
Sinh Khí là trường hợp đặc biệt, không thể dùng cách trừ 1 mà phải lấy số hợp sinh thành với 1 tức là 6 vậy, cho nên là vận 6.

Trong cập 1&9 Họa Hại và 2&8 Tuyệt Mệnh, nếu lây số 1 – 1= 0, hoặc 2 – 1 = 1 vô ý nghĩa bỡi 1 đã là vận 1 rồi, vì vậy phải lấy số 9, và 8 mà trừ.

Cách tính Tượng
1&9, tượng là thượng quái
2&8, tượng là hạ quái
3&7, tượng là quái hợp 10 với hạ quái
4&6, tượng là hợp 10 với hạ
Phục Vị, tượng là thượng quái
Thiên Y, tượng là thượng quái
Diên Niên, tượng là thượng quái
Sinh Khí, tượng là quái hợp 10 với hạ quái

Tóm lại ta có:
Tổng số 1 & 9, Họa Hại, 9-1 = vận 8, tượng thượng
Tống số 2 & 8, Tuyệt Mệnh, 8-1= vận 7, tượng hạ
Tổng số 3 & 7, Ngũ Quỷ, 3-1 = vận 2, tượng hạ hợp 10
Tổng số 4 & 6, Lục Sát, 4-1 = vận 3, tượng hạ hợp 10
Bát Thuần, Phục Vị, vận 1, tượng thượng
Hợp 5, Thiên Y, 5-1 = vận 4, tượng thượng
Hợp 10, Diên Niên, 10-1 = 9, tượng thượng
Sinh Thành, Sinh Khí, 1&6 = vận 6, tượng hạ hợp 10

Thí dụ:
Quẻ Trạch Thủy Cách 47, 4+7=1 Họa Hại, vận 8 (1&9, lấy 9-1 = 8), tượng thượng là Trạch 4, tức Đoài, hậu thiên là Đoài 7, vì vậy ta có thể viết Trạch Thủy Cách là 4787

Quẻ Phong Trạch Trung Phù 24, 2+4=6 Lục Sát 4&6, lấy 4-1 = vận 3, tượng hạ hợp 10, hạ quái là 4 Đoài vậy hợp thập 10 với 4 là 6 Cấn là tượng, hậu thiên Cấn là 8, nên quẻ Phong Trạch Trung Phù có thể viết là 2438

Quẻ Phong Hỏa Gia Nhân 23, 2+3 = 5 Thiên Y, 5-1 = vận 4, tượng thượng tức là 2 Tốn, hậu thiên là Tốn 4, cho nên quẻ Phong Hỏa Gia Nhân viết là 2344

Quả Địa Sơn Khiêm 16, 1&6 hợp sinh thành, vậy là vận 6, tượng hạ hợp 10, quẻ hạ là 6 vậy quẻ hợp thập với 6 là 4 Đoài, hậu thiên là Đoài 7, vậy Địa Sơn Khiêm viết là 1667.

Tổng số 1 & 9, Họa Hại, 9-1 = vận 8, tượng thượng
Tống số 2 & 8, Tuyệt Mệnh, 8-1= vận 7, tượng hạ
Tổng số 3 & 7, Ngũ Quỷ, 3-1 = vận 2, tượng hạ hợp 10
Tổng số 4 & 6, Lục Sát, 4-1 = vận 3, tượng hạ hợp 10
Bát Thuần, Phục Vị, vận 1, tượng thượng
Hợp 5, Thiên Y, 5-1 = vận 4, tượng thượng
Hợp 10, Diên Niên, 10-1 = 9, tượng thượng
Sinh Thành, Sinh Khí, 1&6 = vận 6, tượng hạ hợp 10

Sơ Thế Họa Quỷ (Nội sơ hào 1 Họa Hại, ngoại sơ hào 4 Ngũ Quỷ)
Trung Thế Thiên Sinh (Nội trung hào 2 Thiên Y, ngoại trung hào 5 Sinh Khí)
Tam Thế, Diên Tuyệt (hào thế tam Diên niên và Tuyệt Mệnh)
Tứ Sát Lục Vị (Lục Sát thế tứ, Phục Vị thế lục)
Thế Ứng Linh Linh
Cấp Cấp Luật Lệnh

Cách ghi nhớ hào thế như sau:
Hào 2 và hào 5 là hai hào nhân, là tốt bỡi đắc trung, nên lúc nào củng đi với Thiên Y (hào 2) và Sinh Khí (hào 5).
Hào sơ là các hào yếu, xấu, sơ hào nội (tức hào 1) là Họa Hại, sơ ngoại (tức hào 4) là Ngũ Quỷ
Hào trung là các hào đắt trung, tốt. Trung nội (tức hào 2) là Thiên Y, trung ngoại (tức hào 5) Sinh Khí
Hào 3, là Diên Niên và Tuyệt Mạng (Quy Hồn).
Bát Thuần thì hào 6 là thế vậy.

Hào Thế và hào ứng đi thành 1 cập 1-4, 2-5, 3-6. Thế 1 thì Ứng 3, thế 3 thì ứng 1, vv….

Để lập Lục Thân cho các hào của quẻ trùng quái theo phép Hổn Thiên Nạp Giáp thì phải ghi nhớ bài thơ sau:
Giáp Nhâm phùng Càn Tí Ngọ phương
Ất Quý Khôn cư Mùi Sửu vị
Chấn Canh Tí xứ, Tốn Tân Sửu
Khãm hề Mậu Dần, Ly Kỷ Mão
Bính Cấn cư Thìn, Đoài Đinh Tỵ

Đó là hào sơ khởi chi của các quẻ thuần, Dương quái Càn Chấn Khãm Chấn đi thuận, âm quái Khôn Tốn Ly Đoài đi nghịch, đếm 1 bỏ 1. Càn nội lấy Giáp ngoại lấy Nhâm, Khôn nội lấy Ất ngoại lấy Quý.

Khãm khởi Dần thuận hành, lấy 1 bỏ 1, tức Dần Thìn Ngọ (3 hào nội), Thân Tuất Tí (3 hào ngoại)
Khãm nạp can Mậu, vậy 3 hào nội là Mậu Dần, Mậu Thìn, Mậu Ngọ

Nếu bày liệt phép Nạp Giáp trên bàn tay sẻ như sau:
Tưởng tượng đây là 12 cung địa chi nhé:
[Tỵ: Đinh Đoài-][Ngọ: Nhâm Càn——–][Mùi: Ất Khôn———–][—–]
[Thìn: Bính Cấn][———————————————-][—–]
[Mão: Kỷ Ly—-][———————————————-][—–]
[Dần: Mậu Khãm-][Sửu: Quý Khôn,Tân Tốn][Tí: Giáp Càn, Canh Chấn][—–]

Khi đã có quẻ, thì theo phép Nạp Giáp để nạp Can Chi vào cho mỗi hào. Nạp giáp cho quẻ phân ra quẻ nội quẻ ngoại, tùy theo quẻ trùng có quẻ nội ngoại thuộc quẻ bát thuần nào.
Như quẻ Trạch Thủy Khổn thì quẻ ngoại (thượng) là thuộc quẻ thuần Đoài (Trạch), quẻ nội Thủy là thuộc quẻ thuần Khãm (Thủy). Như vậy nạp giáp Can Chi của quẻ Trạch Thủy Khổn lấy can chi quẻ ngoại của Thuần Đoài, và can chi quẻ nội của Thuần Khãm vậy.

Ngũ hành của tượng quẻ (Hậu Thiên) là đại diện cho Ta, sau đó so sánh với Chi nạp giáp của các hào mà định huynh tử tài quan phụ.
Sinh Ta là Phụ Mẩu
Đồng Ta là Huynh Đệ
Ta Sinh là Tử Tôn
Ta Khắc là Thê Tài
Khắc Ta là Quan Quỷ

Quẻ Trạch Thủy Khổn, tức 47, 4+7=1&9 Họa Hại vận 8, tượng thượng tức thuộc Đoài 4 tiên thiên, hậu thiên là Đoài 7, thế tại sơ hào. Viết theo huyền không đại quái là 4787.

Đoài 7 hậu thiên là Kim, vậy hành của Ta là Kim. Ta nạp giáp can chi cho quẻ theo bài thơ Đoài thượng, Khãm hạ. Quẻ thượng Đoài có can chi của quẻ thượng của Thuần Đoài, quẻ hạ Khãm có can chi của quẻ hạ của Thuần Khãm.
_ _, Đinh Mùi
___, Đinh Dậu
___, Đinh Hợi(Ứng)

_ _, Mậu Ngọ
___, Mậu Thìn
_ _, Mậu Dần

Đinh Mùi, Mậu Thìn, Mùi và Thìn đều là Thổ, Ta là Kim, Thổ sinh Kim tức sinh ta, vậy là hai hào Phụ Mẫu
Đinh Dậu, Dậu là Kim, Ta là Kim, Kim Đồng Kim, vậy Đinh Dậu là hào Huynh Đệ
Đinh Hợi, Hợi là Thủy, Ta là Kim, Kim Sinh Thủy, vậy Đinh Hợi là hào Tử Tôn
Mậu Ngọ, Ngọ là Hỏa, Ta là Kim, Hỏa Khắc Kim, vậy Mậu Ngọ là hào Quan Quỷ
Mậu Dần, Dần là Mộ, Ta là Kim, Kim Khắc Mộc, vậy Mậu Dần là hào Thê Tài
Như vậy ta được quẻ Trạch Thủy Khổn như sau:
_ _, Đinh Mùi, Phụ Mẫu
___, Đinh Dậu, Huynh Đệ
___, Đinh Hợi, Tử Tôn (Ứng)

_ _, Mậu Ngọ, Quan Quỷ
___, Mậu Thìn, Phụ Mẫu
_ _, Mậu Dần, Thê Tài (Thế)

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 9

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 9

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Như các quẻ thứ 6 trong tượng gồm có:
Thiên Trạch Lý tượng Cấn, Thiên 9 + Trạch 4 = Sinh Khí
Trạch Thiên Quải tượng Khôn, Trạch 4 + Thiên 9 = Sinh Khí
Hỏa Lôi Phệ Hạp tượng Tốn, Hỏa 3 + Lôi 8 = Sinh Khí
Lôi Hỏa Phong tượng Khãm, Lôi 8 + Hỏa 3 = Sinh Khí
Phong Thủy Hoán tượng Ly, Phong 2 + Thủy 7 = Sinh Khí
Thủy Phong Tỉnh tượng Chấn, Thủy 7 + Phong 2 = Sinh Khí
Sơn Địa Bác tượng Càn, Sơn 6 + Địa 1 = Sinh Khí
Địa Sơn Khiêm tượng Đoài, Địa 1 + Sơn 6 = Sinh Khí

Thấy tất cả quẻ thứ 6 trong các tượng đều là Sinh Khí!!!
Sau khi tra xét tất cả thứ tự của các quẻ trùng trong tượng thì thấy được như sau:


Quẻ thứ 1 trong tượng đều là Phục Vị
Quẻ thứ 2 trong tượng đều là Họa Hại
Quẻ thứ 3 trong tượng đều là Thiên Y
Quẻ thứ 4 trong tượng đều là Diên Niên
Quẻ thứ 5 trong tượng đều là Ngũ Quỷ
Quẻ thứ 6 trong tượng đều là Sinh Khí
Quẻ thứ 7 trong tượng đều là Lục Sát
Quẻ thứ 8 trong tượng đều là Tuyệt Mạng.

Như vậy ta có thể ghép Bát San vào hai nghi 1-6-8-5, 2-7-3-4 như sau:
1 Phục, 6 Sinh, 8 Tuyệt, 5 Quỷ
2 Họa, 7 Sát, 3 Thiên, 4 Niên

Củng trong bài Lưỡng Nghi Tiên Thiên Chẩu, ta có vị trí hào thế như sau:
1 – thế 6 (quẻ Bát Thuần)
2 – thế 1
3 – thế 2
4 – thế 3
5 – thế 4
6 – thế 5
7 – thế 4 (quẻ Du Hồn)
8 – thế 3 (quẻ Quy Hồn)

Quy luật biến hào của tượng là khởi quẻ Thuần, biến từ sơ hào đến hào 5, đây là giai đoạn thăng, sau hào 5 thì biến xuống hào 4, đây là giai đoạn giáng. Trong các vị trí hào thế (liệt kê phía trên) ta thấy hào thế có hai lần cư tại hào 3 và hai lần cư tại hào 4. Sự khác biệt giữa hai lần là một thì xảy ra khi thăng và một xảy ra khi giáng!

Nay ta ghép các hào thế vào vòng lưỡng nghi 1-6-8-5, 2-7-3-4
1 Phục Vị, Thế hào 6
6 Sinh Khí, Thế hào 5
8 Tuyệt Mạng, Thế hào 3 (Giáng)
5 Ngủ Quỷ, Thế hào 4 (Thăng)
2 Họa Hại, Thế hào 1
7 Lục Sát, Thế hào 4 (Giáng)
3 Thiên Y, Thế hào 2
4 Diên Niên, Thế hào 3 (Thăng)

Thấy rằng Sinh Khí thế hào 5, và Thiên Y thế hào 2. Đó có phải là kiết cách Đắc Trung trong Dịch không ???
Thế cư Sơ là Họa Hại, Thế cư hào 4 là Ngũ Quỷ và Lục Sát, Thế cư hào 3 Giáng là Tuyệt Mạng, mà cư hào 3 Thăng là Diên Niên. Quý khách có thấy rằng Bát San Tốt Xấu đều có liên quan đến vị trị của hào Thế trong các quẻ của Tượng không?

Tại sao Bát Trạch dùng Tọa là chính???

Bát Trạch dùng tọa làm chính bởi vì Tọa lúc nào củng là quẻ Phục Vị. Quẻ Phục Vị chính là 8 quẻ Thuần của Tượng. Nếu quý khách có biết qua bốc dịch lục hào thì quý khách củng biết rằng khi ta an Lục Thân (Huynh Tử Tài Quan Phụ) cho các hào ta phải dùng Ngũ hành của Tượng, so sánh chi của Nạp Giáp sinh khắc mà định, vậy cái Ta để định Sinh Ta là Phụ Mẩu, mà Khắc Ta là Quan Quỷ , còn Ta Khắc là Thê Tài, này nằm ở đâu??? Chính là hành của quẻ Bát Thuần, quẻ Bát Thuần củng là Phục Vị của Bát Trạch.
Cho nên Bát Trạch lấy Tọa để định 8 Trạch là hoàn toàn phù hợp với Dịch Lý!!!

Củng từ sự liên quan này có thể suy luận xa hơn, để lập 8 quẻ trùng trong mỗi Trạch. Nhu Càn Trạch, thì Thuần Càn là Ta, quẻ nội là ta, quẻ ngoại là khách, như vậy ta có 8 quẻ cho Càn Trạch như sau:
Cung Càn, Thuần Càn, Phục Vị, quẻ 1 Tượng Càn, Thế 6
Cung Khãm, Thủy Thiên Nhu, Lục Sát, quẻ 7 Tượng Khôn, Thế 4
Cung Cấn, Sơn Thiên Đại Súc, Thiên Y, quẻ 3 Tượng Cấn, Thế 2
Cung Chấn, Lôi Thiên Đại Tráng, Ngũ Quỷ, quẻ 5 Tượng Khôn, Thế 4
Cung Tốn, Phong Thiên Tiểu Súc, Họa Hại, quẻ 2 Tượng Tốn, Thế Sơ
Cung Ly, Hỏa Thiên Đại Hửu, Tuyệt Mạng, quẻ 8 Quy Hồn Tượng Tốn, Thế 3
Cung Khôn, Địa Thiên Thái, Diên Niên, quẻ 4 Tượng Khôn, Thế 3
Cung Đoài, Trạch Thiên Quải, Sinh Khí, quẻ 6 Tượng Khôn, Thế 5

Vậy 8 quẻ của Càn Trạch ứng dụng như thế nào đây?

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 8

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 8

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Vòng lưỡng nghi trong tiên thiên bát quái.

Quy luật bí mật của hai vòng lưỡng này trong sự sắp xếp 8 quẻ vào các trùng quái.
Xét lại 8 vận đồ này thì ta thấy rằng 4 cung tứ chính (Càn Khôn Khãm Ly) đều xoay theo chiều nghịch kim đồng hồ, và 4 cung tứ duy (Cấn Đoài Chấn Tốn) đều xoay theo chiều thuận kim đồng hồ.
Ta cho vòng xoay thuận kim đồng hồi là dương +, và chiều xoay nghịch kim đồng hồ là âm -, như vậy 8 cung của tiên thiên bát quái có các chiều xoay như sau:
[+][-][+]
[-][x][-]
[+][-][-]

tức là
[+Đoài][-Càn-][+Tốn-]
[-Ly–][–x–][-Khãm]
[+Chấn][-Khôn][+Cấn-]

Qua nhiều lần nghiên cứu cách sắp xếp các quẻ vào tượng, thì tiểu sinh thấy rằng thứ tự của các quẻ trong các tượng là:
1-6-8-5, 2-7-3-4
1-6-8-5 là môt nghi, 2-7-3-4 là một nghi
Khi đếm tới số sau cùng của nghi 1-6-8-5 (tức là khi đếm tới 5) thì sẻ chuyển sang cung đối diện, xem cung đối diện đó xoay theo chiêu + hay – mà tiếp tục đếm 2-7-3-4.

Các quẻ thuộc số 1,2,3,4 trong hai nghi có tượng là đơn quái ngoại.
Các quẻ thuộc số 5,6,7 trong hai nghi có tượng là đớn quái đối nội
Quẻ thuộc số 8 có tượng là đơn quái nội.
Đơn quái đối nội tức là quái đối diện với quái nội.

Thí dụ như tám quẻ Càn ngoại (tức quẻ Càn là ngoại quái kết hợp với 8 quẻ nội)
Ta đếm như sau:
Khởi tại cung Càn, Càn thuộc (-) tức xoay nghịch chiều kim đồng hồ,
theo thứ tự Càn Đoài Ly Chấn, Tốn Khãm Cấn Khôn, Càn là – xoay nghịch, Tốn là + xoay thuận.

1) Thiên Thiên tức quẻ trùng Càn là 1, tượng ngoại tức Càn, vậy là quẻ 1 của tượng Càn

2) Thiên Trạch (Lý) 6, tượng đối nội, Trạch là nội, đối nội là Cấn, vậy Thiên Trạch là quẻ số 6 của tượng Cấn

3) Thiên Hỏa (Đồng Nhân) 8, tượng là nội quái, tức Hỏa Ly,vậy Thiên Hỏa là quẻ số 8 của tượng Ly

4) Thiên Lôi (Vô Vọng) 5, tượng là quẻ đối nội, nội là Lôi thì đối nội là Phong Tốn, vậy Thiên Lôi là quẻ số 5 trong tượng Tốn

5) Nay đã đếm hết nghi 1-6-8-5 sang nghi 2-7-3-4. Sô 5 kết thúc tại cung Chấn Lôi, ta nhảy sang cung đối với Chấn tức là Tốn, Tốn thuộc + xoay thuận chiều kim đồng hồ.
Thiên Phong (Cấu) 2, tượng là quẻ ngoại, tức tượng Thiên Càn, vậy Thiên Phong là quẻ 2 của tượng Càn

6) Tiếp tục theo chiều thuận kim đồng hồ là đến Khãm Thủy,
Thiên Thủy (Tụng) 7, tượng là đối nội, nội là Thủy, đối với Thủy là Họa Ly, vậy Thiên Thủy thuộc quẻ 7 trong tượng Ly

7) Thiên Sơn (Độn) 3, tượng là quẻ ngoại, tức là Thiên Càn, vậy Thiên Sơn thuộc quẻ 3 trong tượng Càn

8) Thiên Địa (Bỉ) 4, tượng là quẻ ngoại tức Thiên Càn, vậy Thiên Địa là quẻ 4 trong tượng Càn.

Thí dụ 8 quẻ Chấn Lôi:
Chấn thuộc + xoay thuận kim đồng hồi tức là Chấn, Ly, Đoài, Càn, sang đối cung của Càn là Khôn thuộc -, nghịch chiều kim đồng hồ là Khôn, Cấn, Khãm, Tốn. Ta thấy một bên xoay thuận thì bên kia sẻ xoay nghịch và ngược lại, bỡi hai vòng lưỡng nghi một thuận một nghịch mà.

Chấn Ly Đoài Càn
1) Lôi Lôi Trùng Chấn 1, tượng Chấn, quẻ thứ 1
2) Lôi Hỏa 6, tượng đối nội là Khãm, tức quẻ thứ 6 tượng Khãm
3) Lôi Trạch 8,tượng là quẻ nội tức Đoài, tức quẻ thứ 8 tượng Đoài
4) Lôi Thiên 5, tượng đối nội là Khôn, tức quẻ 5 của tượng Khôn
5) Số 5 dừng tại Thiên thì cung đối với thiên là địa Khôn vậy ta khởi 2-7-3-4 tại Khôn (-) đi nghịch chiều kim đồng hồ.
Lôi Địa 2, tượng là quẻ ngoại tức Chấn Lôi, tức quẻ 2 của tượng Chấn
6) Lôi Sơn 7, tượng là đối nội tức Đoài, tức quẻ 7 của tượng Đoài
7) Lôi Thủy 3, tượng là ngoại tức Lôi Chấn, vậy là quẻ 3 của tượng Chấn
8) Lôi Phong 4, tượng là ngoại tức Lôi Chấn, vậy là quẻ 4 của tượng Chấn

Hào thế theo các số của hai nghi 1-6-8-5, 2-7-3-4 như sau:
1 – thế 6 (quẻ Bát Thuần)
2 – thế 1
3 – thế 2
4 – thế 3
5 – thế 4
6 – thế 5
7 – thế 4 (quẻ Du Hồn)
8 – thế 3 (quẻ Quy Hồn)

Giờ đã có cách để tính xem bất cứ quẻ trùng nào thuộc quẻ số mấy của tượng gì, hào thế là hào mấy.

- Advertisement -

BÀI VIẾT KHÁC