35.6 C
Hanoi
Thứ Năm, 4 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Trang chủ Blog Trang 14

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 7

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 7

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Theo các Hán thư về Bát Trạch thì lấy tọa quái làm căn bản, cho nên lúc nào tọa củng ở Phục Vị.
Cửa là một yếu tố quan trọng trong dương trạch, cho nên phương pháp “Thái Dịch Trừu Hào Biến Tượng” xê dịch hướng cửa để biến tượng mà hóa giãi các trường hợp Tọa Hướng rơi vào tứ hung (Tuyệt Mệnh, Ngủ Quỷ, Lục Sát, Họa Hại).

Theo thông thường thì hướng nhà đối diện với tọa, và hướng cửa củng trùng hợp hướng nhà, theo Thái Dịch Trừu Hào Biến Tượng thì khi hướng cửa được thay đổi thì tọa củng đã thay đổi.

Như nhà tọa Càn hướng Tốn, đặt cửa tại cung Tốn (Đông Nam), cửa hướng thẳng trước mặt củng là hướng Tốn (Đông Nam).
Càn 9 + Tốn 2 = 1 Họa Hại. Như vậy nhà này nạp khí Họa Hại là xấu.
(Số lấy tiên thiên làm thể, phương vị hậu thiên làm dụng)

Thái Dịch Trừu Hào Biến Tượng biến hào thượng hạ của Tọa quái, thành quái tọa mới, đối với quái tọa mới là hướng mà cửa phải xê dịch.


Như Càn trạch (tọa Càn hướng Tốn) phạm Họa Hại, lấy quẻ Càn biến thưọng và hạ hào thành quẻ Khãm, Khãm đối Ly (Hậu Thiên phương vị), vậy cửa phải xoay hướng Ly (vẫn giữ cửa tại cung Tốn, nhưng chỉ xoay cửa xéo về Ly).
Vậy tọa mới là Khãm 7 + Tôn 2 = Sinh Khí. Hướng cửa Ly 3 + Khãm 7 = hợp 10 Diên Niên.

Như nhà tọa Chấn hướng Đoài, đặt cửa tại cung Khôn, cửa hướng thẳng Đoài (Tây).
Chấn 8 + Khôn 1 = 9 Họa Hại
Chấn 8 + Đoài 4 = 2 Tuyệt Mạng
Chấn trạch này đặt cửa tại cung Họa Hại, hướng cửa Tuyệt Mạng hung.

Theo Thái Dịch Trừu Hào Biến Tượng, biến hào thượng và hào hạ của Chấn thành Cấn, đối với Cấn (ở Hậu Thiên) là Khôn, như vậy chỉ cần xoay cửa về hướng Khôn là có thể hóa giải.
Cửa hướng Khôn nên tọa mới là
Cấn 6 + Khôn 1 = Sinh Khí
Cấn 6 + Đoài 4 = hợp 10 Diên Niên

Đơn Giải như dang giởn nhỉ. Chỉ cần biến hào Thượng và Hạ của Tọa sơn quái!!!

Phương pháp này lấy từ quyển “Huyền Không Thái Dịch Quái Phong Thủy Bố Cục Pháp”

Thật ra không cần biến hào thì củng có thể tính ra, như Chấn trạch đặt cửa tại cung Khôn thuộc Họa Hại (cửa hướng Đoài Tuyệt Mạng).
Khôn 1 cùng Cấn 6 thành Sinh Khí, như vậy để biến cung Khôn từ Họa Hại thành Sinh Khí thì tọa phải biến từ Chấn thành Cấn. Tọa Cấn thì hướng phải Khôn, vậy xoay cửa từ hướng Đoài sang hướng Khôn vậy.

Càn trạch đặt cửa tại cung Tốn thành Họa Hại. Tốn 2 + Khãm 7 là Sinh Khí, vậy muốn biết Tốn từ Họa Hại thành Sinh Khí phải biến tọa từ Càn thành Khãm, tọa Khãm thì hướng Ly, vậy xoay cửa từ hướng Tốn sang hướng Ly vậy.

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 6

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 6

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

Sách Hà Lạc Tinh Uẩn nói về Cửu Tinh Quái Liệt Thuyết như sau:

Cửu tinh giả, Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Phụ Bật dã.
Cửu tinh xuất tự Bắc Đẩu. Bắc Đẩu Thất Tinh 1 Thiên Xu (天樞), 2 Thiên Cơ (天機), 3 ThiênTuyền (天璇), 4 Thiên Quyền (天權) là Khôi (魁). 5 Thiên Hành (天衡), 6 Khai Dương (開陽), 7 Dao Quan (搖光), là Tiêu (杓).
Bên cạnh Khai Dương Dao Quan có tiểu tinh phía tả là Phụ, hửu là Bật. Hợp thành 9 tinh. Địa lý gia gì vậy mà có Cửu tinh, Tham Lang Mộc, Cự Môn Thổ, Văn Khúc Thủy, Liêm Trinh Hỏa, Vũ Phá Phụ Bật đều là Kim. Đả có cửu tinh yên vị, thì cửu tinh bát quái lấy Phụ Bật là Bản Thể quái. 7 quái còn lại phiên biến, từ thượng khởi biến, như quẻ Càn, có Đoài là Tham Lang, đều là theo thứ tự biến, Thượng Trung Hạ Trung Thướng Trung Hạ Trung. Bát biến thì quy tại Phụ Bật. Nó có cái lý của nó. Quái 6 hoạch thiw tòng sơ biến thượng, quái 3 hoạch thì tòng thượng biến hạ. Thượng hoạch biến là đồng cung, như Càn Đoài đều là cung Lão Dương (Thái Dương), Chấn Tốn đều là cung Thiếu Âm, Khãm Tốn đều là Thiếu Dương, Khôn Cấn đều là đồng cung Lão Âm (Thái Âm). Các quá đồng cung đều khởi Sanh Khí Tham Lang. Đó là quẻ Càn phiên biến ra nên viết là Thiên Phụ Quái. Lại nói Thiên Định Quái. Lấy quẻ Khôn phiên biến ra viết là Địa Mẩu Quái.
Tham Cự Vũ tinh là Tam Kiết, quái là Cấn Bính Tốn Tân Đoài Đinh là Lục Thấu. Cấn là Tham của Khôn, Tốn là Cự của Khôn, Đoài là Vũ của Khôn. Đó là Kiết Thấu. Khôn là việc của Địa, tất có chổ dụng. Nhưng trong phép chiêm Cư (chiêm trạch), đồng cung khởi Tham Lang, nhưng thứ tự lại là Tham Liêm Vũ Văn Lộc Phá Phụ. Nhu Càn trạch tòng Đoài khởi Tham, tắc Liêm gia Chấn, Vũ gia Khôn, Văn gia Khãm, Lộc gia Tốn, Cự gia Cấn, Phá gia Ly. Cho nên Khôn có Đoài Cấn môn là kiết.


Theo “Bát Trạch Minh Cảnh”, Phụ Bật là Phục Vị Mộc, và cửu tinh được sắp xếp theo ngũ hành vào Hậu Thiên Bát Quái như sau:
[Tốn PhụBật PV Âm Mộc–][Ly Liêm NQ Âm Hỏa—–][Khôn Lộc HH Âm Thổ-]
[Chấn Tham SK Dương Mộc][———————-][Đoài Phá TM Âm Kim-]
[Cấn Cự TY Dương Thổ—][Khãm Văn LS Dương Thuỷ][Càn Vũ DN Dương Kim]

Càn Chấn Khãm Cấn: Dương
Khôn Tốn Ly Đoài: Âm
Tinh Cung Ngũ Hành tương ứng.

Vì vậy theo Hậu Thiên Bát quái ta có:
Tham Lang (SK): Chấn
Cự Môn (TY): Cấn
Lộc Tồn (HH): Khôn
Văn Khúc (LS): Khãm
Liêm Trinh (NQ): Ly
Vũ Khúc (DN): Càn
Phá Quân (TM): Đoài
Phụ Bật (PV): Tốn.

Trong Nguyên Không Pháp Giám cửu tinh được ghép như sau:
Tham Lang: Chấn
Cự Môn: Cấn
Lộc Tồn: Khãm
Văn Khúc: Khôn
Vũ Khúc: Càn
Phá Quân: Đoài
Tả Phụ: Tốn
Hửu Bật: Ly

Này ta thử so sánh với cửu tinh phối quái của Bát Trạch, trong ngoặc:
Tham Lang: Chấn (Chấn)
Cự Môn: Cấn (Cấn)
Lộc Tồn: Khãm (Khôn)
Văn Khúc: Khôn (Khãm)
Vũ Khúc: Càn (Càn)
Phá Quân: Đoài (Đoài)
Tả Phụ: Tốn (Phụ Bật = Tốn)
Hửu Bật: Ly (Liêm Trinh = Ly)

Ta thấy có 3 sự thay đổi,
Khãm Khôn (Lộc Văn) thay đổi với nhau.
Liêm Trinh Ly không có nên ghép Hửu Bật vào Ly Hỏa.

Nếu nói đây là phối theo thuyết Cửu Tinh phối Hậu Thiên 8 Quái thì thật có chổ bị tráo đổi!!!

Nay ta lại xét cái “Thư Hùng Giao Cấu Sinh Nam Nử Lâm Cửu Tinh Đồ” trong Nguyên Không Pháp Giám, cửu tinh được phối 24 sơn như sau:
Giáp Quý Thân Tốn = quẻ Chấn Tham Lang
Khôn Nhâm Ất Thìn = quẻ Cấn Cự Môn
Tí Mùi Mão Tỵ = quẻ Khãm Lộc Tồn
Cấn Bính Tân Tuất = quẻ Đoài Phá Quân
Dần Canh Đinh Càn = quẻ Tốn Tả Phụ
Ngọ Dậu Sữu Hợi = quẻ Ly Hửu Bật
Ở đồ này thì chỉ có Tham Cự Lộc, Phá Phụ Bật

Xét lại Tiên Thiên Nguyên Vận Đồ ta thấy như sau:
Giáp Quý Thân = Tham Lang, Tốn = Văn Khúc
Khôn Nhâm Ất = Cự Môn, Thìn = Vũ Khúc
Tí Mùi Mão = Lộc Tồn, Tỵ = Văn Khúc
Cấn Bính Tân = Phá Quân, Tuất = Văn Khúc
Dần Canh Đinh = Tả Phụ, Càn = Vũ Khúc
Ngọ Dậu Sữu = Hửu Bật, Hợi = Vũ Khúc
Nguyên Vận đồ này thì đủ 8 (Liêm không dùng)
tức là:
Tuất Tốn Tỵ = quẻ Khôn Văn Khúc
Càn Thìn Hợi = quẻ Càn Vũ Khúc

Các bạn đọc xem Nguyên Vận Ai Tinh Quyết
“Giáp quý thân tham lang nhất lộ hành ,
Khôn nhâm ất cự môn tòng đầu xuất ,
Tí mùi mão tam san lộc tồn đáo ,
Tuất kiền Tỵ văn khúc tương liên thứ
Tốn thìn hợi tận thị vũ khúc vị ,
Cấn bính tân vị vị thị phá quân ,
Dần canh đinh dĩ lệ khởi phụ tinh ,
Ngọ dậu sửu hữu bật thất bát cửu.”

Như vậy rõ ràng đây là phép sắp Cửu tinh phối quái theo Nguyên Vận Ai Tinh Quyết, nhưng đổi Càn và Tốn (Văn Vũ).
Nếu theo Ai Tinh Quyết sắp vào Hậu Thiên Bát Quái ta sẻ có:
[Tốn Phụ Mộc–][Ly Bật Hỏa—][Khôn Văn Thổ]
[Chấn Tham Mộc][————-][Đoài Phá Kim]
[Cấn Cự Thổ—][Khãm Lộc Thủy][Càn Vũ Kim–]

Rõ ràng chổ bất hợp lý ở cách phối quái này là cái Ngũ Hành không khớp với nhau. Văn Khúc tinh Thủy mà phối với Khôn Thổ, Lộc Tồn Thổ mà phối vối Khãm Thủy. Hay là tại phép Trường Sinh Thủy Thổ đều khởi cùng nơi????

Khôn Nhâm Ất chỉ có 4 câu, 4 câu sau thật sự không ai biết nó là chân ngụy.
Bởi vì lý thuyết của nó không có cơ sở!!!
Nếu chân pháp chỉ có 4 câu là đủ, thì sự phối tinh vào các sơn trong Nguyên Không Pháp Giám phải là Ngụy!!!

Nếu thật sự 8 câu đều là chân quyết, vậy cái nguyên lý căn bản của nó từ đâu, chắc chắn là không khớp với thuyết Cửu Tinh phối Quái theo như Hà Lạc Tinh Uẩn giải thích!!!
===================================

Nhiều người cho rằng cái ai tinh quyết Tí Quý Tịnh Giáp Thân là chân quyết. Thiết nghỉ bắt cứ cái quyết nào trong Phong Thủy đều phải có nguồn gốc nguyên lý, phải thích hợp với các nguyên lý căn bản. Nay chúng ta đem nó ra mổ xẻ xét nghiệm xem nó có thích hợp với những nguyên lý căn bản không?

“Tí Quý tịnh Giáp Thân Tham Lang nhất lộ hành,
Nhâm Mão Ất Mùi Khôn, ngũ vị thị Cự Môn,
Kiền Hợi Thìn Tốn Tỵ, liên Tuất Vũ Khúc danh,
Dậu Tân Sửu Cấn Bính, thiên tinh thuyết Phá Quân,
Dần Ngọ Canh Đinh thượng, Hữu Bật tứ tinh lâm.”

Nay ta sắp xếp lại các sơn theo Thiên Địa Nhân nguyên xem:

Tham: Tí Thiên,Quý Nhân, Giáp Địa, Thân Nhân
Cự: Nhâm Địa, Mão Thiên, Ất Nhân, Mùi Địa, Khôn Thiên
Vũ: Kiền Thiên, Hợi Nhân, Thìn Địa, Tốn Thiên, Tỵ Nhân, Tuất Địa
Phá: Dậu Thiên, Tân Nhân, Sửu Địa, Cấn Thiên, Bính Địa
Bật: Dần Nhân, Ngọ Thiên, Canh Địa, Đinh Nhân

Vậy thì:
Thiên nguyên:
Tham: Tí
Cự: Mão
Lộc: Không có
Văn: Không có
Vũ: Kiền, Tốn
Phá: Dậu, Cấn
Phụ: Không có
Bật: Ngọ

Địa nguyên:
Tham: Giáp
Cự: Nhâm, Mùi
Lộc: Không Có
Văn: Không Có
Vũ: Thìn, Tuất
Phá: Sửu, Bính
Phụ: Không có
Bật: Canh

Nhân nguyên:
Tham: Quý, Thân
Cự: Ất
Lộc: Không Có
Văn: Không Có
Vũ: Hợi, Tỵ
Phá: Tân
Phụ: Không Có
Bật: Dần, Đinh

Ta thấy theo quyết này, thì Lộc, Văn, Phụ đều không dùng, tại sao???

Nay ta lại dùng Tam Bang Quái để phân tích :

Thiên Quái: 1 4 7 tức Khãm Tốn Đoài
Khãm: Nhâm Cự, Tí Tham, Quý Tham
Tốn: Thìn Vũ, Tốn Vũ, Tỵ Vũ
Đoài: Canh Bật, Dậu Phá, Tân Phá

Như vậy ta có
Tham: Tí
cự: Nhâm
Lộc: Không Có
Văn: Không Có
Vũ: Thìn, Tốn, Tỵ
Phá: Dậu, Tân
Phụ: Không Có
Bật: Canh

Địa Quái: 2 5 8 tức Khôn Trung Cấn
Khôn: Mùi Cự, Khôn Cự, Thân Tham
Trung: ???
Cấn: Sửu Phá, Cấn Phá, Dần Bật

Như vậy:
Tham: Thân
Cự: Mùi, Khôn
Lộc: Không Có
Văn: Không Có (Tốn ???)
Vũ: Không Có (Càn ???)
Phá: Sửu, Cấn
Phụ: Không Có
Bật: Dần

Nhân Quái: 3 6 9 tức Chấn Càn Ly
Chấn: Giáp Tham, Mão Cự, Ất Cự
Càn: Tuất Vũ, Càn Vũ, Hợi Vũ
Ly: Bính Phá, Ngọ Bật, Đinh Bật

Như vậy:
Tham: Giáp
Cự: Mão, Ất
Lộc: Không Có
Văn: Không Có
Vũ: Tuất, Càn, Hợi
Phá: Bính
Phụ: Không Có
Bật: Ngọ Đinh

Sắp xếp theo Tam Bang quái thấy có cái gì đó củng không ổn?

Nay thử sắp xếp ai tinh vào cửu cung thuận nghịch xem:
Thiên Nguyên: Càn Khôn Cấn Tốn (+), Tí Ngọ Mão Dậu (-)
Địa Nguyên: Giáp Canh Nhâm Bính (+), Thìn Tuất Sửu Mùi (-)
Nhân Nguyên: Dần Thân Tỵ Hợi (+), Ất Tân Đinh Quý (-)

Sau khi bày ai vào các cung rồi gom lại thì ta có 9 bảng sau đây:
Càn (+), Hợi (+)
[1][2][3]
[9][x][4]
[8][7][6]

Khôn (+), Cấn (+)
[9][1][2]
[8][x][3]
[7][6][4]

Thân (+)
[8][9][1]
[7][x][2]
[6][4][3]

Tốn (+), Nhâm (+), Canh (+), Bính (+), Tỵ (+)
[6][7][8]
[4][x][9]
[3][2][1]

Giáp (+), Dần (+)
[2][3][4]
[1][x][6]
[9][8][7]

Tí (-), Quý (-)
[7][6][4]
[8][x][3]
[9][1][2]

Ngọ (-), Mão (-), Dậu (-), Tân (-), Ất (-), Đinh (-), Tuất (-)
[1][9][8]
[2][x][7]
[3][4][6]

Thìn (-)
[6][4][3]
[7][x][2]
[8][9][1]

Sửu (-), Mùi (-)
[4][3][2]
[6][x][1]
[7][8][9]

Ta thấy rằng có bản thì hàm chứa 7 sơn, có bản thì chỉ có 1 sơn, nguyên lý này từ đâu???

Bài tới ta mỗ xẻ :
“Giáp quý thân tham lang nhất lộ hành ,
Khôn nhâm ất cự môn tòng đầu xuất ,
Tí mùi mão tam san lộc tồn đáo ,
Tuất kiền Tỵ văn khúc tương liên thứ
Tốn thìn hợi tận thị vũ khúc vị ,
Cấn bính tân vị vị thị phá quân ,
Dần canh đinh dĩ lệ khởi phụ tinh ,
Ngọ dậu sửu hữu bật thất bát cửu.”

Theo quyển Địa Lý Biện Chánh Cầu Chân, thì cái quyến Khôn Nhâm Ất 4 câu đã bị sửa đổi, chỉ còn có một câu là chân, đó chính là câu Khôn Nhâm Ất Cự Môn tòng đầu xuất!
Sau câu Khôn Nhâm Ất, thì Cấn Bính Tân phải là Phụ Tinh bỡi vì
Khôn đối Cấn, Nhâm đối Bính, Ất đối Tân, Khôn Nhâm Ất là Cự 2 thì Cấn Bính Tân phải là Phụ 8, chính là Phu Phụ hợp 10.
Câu tới Tốn Thìn Hợi tận thị Vũ Khúc vị đã bị sửa, đúng ra phải là Văn Khúc tinh. Câu Giáp Quý Thân củng đã bị sửa, đúng ra phải là Giáp Tí Thân.
Như vậy cái chân quyểt là:
Khôn Nhâm Ất Cự Môn tòng đầu xuất
Cấn Bính Tân vị vị thị Phụ tinh
Tốn Thìn Hợi Tận thị Văn Khúc vị,
Giáp Tí Thân Tham Lang nhất lộ hành.

Từ 4 câu này chúng ta củng đã có thể suy ra toàn quyết!!!
Suy như thế nào đây???
Căn cứ vào đối cung tương tác hợp 10, Hai câu đầu đã cho ta biết như thế!!!
Khôn Nhâm Ất Cự Môn (2) tòng đầu xuất
Cấn Bính Tân vị vị thị Phụ tinh (8)

Cho nên:
Khôn Nhâm Ất: 2, thì đối cung
Khôn 2 <> Cấn 8
Nhâm 2 <> Bính 8
Ất 2 <> Tân 8

Tốn Thìn Hợi 4, thì
Tốn 4 <> Càn 6
Thìn 4 <> Tuất 6
Hợi 4 <> Tỵ 6

Giáp Tí Thân: 1, thì đối cung
Giáp 1 <> Canh 9
Tí 1 <> Ngọ 9
Thân 1 <> Dần 9

Cung Chấn có Giáp Mão Ất, Giáp 1, Mão ? , Ất 2, cho nên Mão phải là 3 Lộc vậy (vì cung Chấn thuộc về Thượng nguyên 1,2,3)
Tương tự như vậy ta có:

Cung Đoài: Canh 9, Dậu ?, Tân 8, cho nên Dậu phải là 7 phá vậy (vì cung Đoài thuộc Hạ nguyên 7,8,9!!!)

Cung Khôn: Mùi?, Khôn 2, Thân 1, cho nên Mùi 3 vậy

Cung Cấn: Sửu ?, Cấn 8, Dần 9, cho nên Sửu phải 7 phá vậy

Cung Khãm: Nhâm 2, Tí 1, Quý ?, cho nên Quý là 3 vậy

Cung Ly: Bính 8, Ngọ 9, Đinh ?, cho nên Đinh phải là 7 Phá vậy

Hai cung Tốn Càn thì đã giải, tức là
Cung Tốn: Thìn 4, Tốn 4, Tỵ 6
Cung Càn: Tuất 6, Càn 6, Hợi 4

Nay ta sắp lại nhé

Khãm 1: Nhâm 2, Tí 1, Quý 3
Khôn 2: Mùi 3, Khôn 2, Thân 1
Chấn 3: Giáp 1, Mão 3, Ất 2
Tốn 4: Thìn 4, Tốn 4, Tỵ 6
Càn 6: Tuất 6, Càn 6, Hợi 4
Đoài 7: Canh 9, Dậu 7, Tân 8
Cấn 8: Sửu 7, Cấn 8, Dần 9
Ly 9: Bính 8, Ngọ 9, Đinh 7

Từ đó ta lại có toàn quyết như sau:
Khôn Nhâm Ất, Cự Môn (2), tòng đầu xuất
Cấn Bính Tân, vị vị thị Phụ tinh (8)
Tốn Thìn Hợi, tận thị Văn Khúc (4) vị
Giáp Tí Thân, Tham Lang (1) nhất lộ hành
Quý Mão Mùi, tam cung Lộc Tồn (3) đáo
Dần Ngọ Canh, y lệ tác Bật (9) tinh
Đinh Dậu Sửu, tam sơn Phá Quân (7) thủ
Càn Tuất Tỵ, Vũ Khúc (6) nhất tinh thị

Như vậy ta có bản 24 sơn đều đối đãi hợp 10!!!
[4][6][8][9][7][3][2]
[4][XXXXXXXXXXXXX][1]
[2][XXXXXXXXXXXXX][9]
[3][XXXXXXXXXXXXX][7]
[1][XXXXXXXXXXXXX][8]
[9][XXXXXXXXXXXXX][6]
[8][7][3][1][2][4][6]

Sắp xếp lại theo Thiên Địa Nhân ta có

Thiên: Tí 1, Khôn 2, Mão 3, Tốn 4, Càn 6, Dậu 7, Cấn 8, Ngọ 9
Địa: Giáp 1, Nhâm 2, Mùi 3, Thìn 4, Tuất 6, Sửu 7, Bính 8, Canh 9
Nhân: Thân 1, Ất 2, Quý 3, Hợi 4, Tỵ 6, Đinh 7, Tân 8, Dần 9

Như vậy ta thấy Thiên Địa Nhân nguyên đều có đầy đủ 9 sao cả!!!

Bây giờ ta xét Tam Bang nhé

Thiên Quái: 1 4 7 tức Khãm Tốn Đoài
Khãm: Nhâm 2, Tí 1, Quý 3
Tốn: Thìn 4, Tốn 4, Tỵ 6
Đoài: Canh 9, Dậu 7, Tân 8

Như vậy ta có
Tham: Tí
Cự: Nhâm
Lộc: Quý
Văn: Thìn, Tốn
Vũ: Tỵ
Phá: Dậu
Phụ: Tân
Bật: Canh

Địa Quái: 2 5 8 tức Khôn Trung Cấn
Khôn: Mùi 3, Khôn 2, Thân 1
Trung: ??? (Tốn, Càn chăng)
Cấn: Sửu 7, Cấn 8, Dần 9

Như vậy:
Tham: Thân
Cự: Khôn
Lộc: Mùi
Văn: (Tốn ???)
Vũ: (Càn ???)
Phá: Sửu
Phụ: Cấn
Bật: Dần

Nhân Quái: 3 6 9 tức Chấn Càn Ly
Chấn: Giáp 1, Mão 3, Ất 2
Càn: Tuất 6, Càn 6, Hợi 4
Ly: Bính 8, Ngọ 9, Đinh 7

Như vậy:
Tham: Giáp
Cự: Ất
Lộc: Mão
Văn: Hợi
Vũ: Tuất, Càn
Phá: Đinh
Phụ: Bính
Bật: Ngọ

Như vậy ta thấy Thiên Địa Nhân tam nguyên và Tam Bang đều có đầy đủ các tinh.

Nay ta thử bài ai thuận nghịch xem, tất cả có 24 bản, nhưng gom lại tất cả có 14 như sau:

Tí (-) Tham
[7][6][4]
[8][x][3]
[9][1][2]
Tốn (+) Văn
[4][6][7]
[3][x][8]
[2][1][9]

Đây là một cập thuận nghịch

Khôn (+) Cự
Hợi (+) Văn
[9][1][2]
[8][x][3]
[7][6][4]
Mão (-) Lộc
Tân (-) Phụ
[2][1][9]
[3][x][8]
[4][6][7]

Đây củng là một cập thuận nghịch

Càn (+) Vũ
Cấn (+) Phụ
[1][2][3]
[9][x][4]
[8][7][6]
Dậu (-) Phá, Ngọ (-) Bật
Tuất (-) Vũ, Ất (-) Cự
[1][9][8]
[2][x][7]
[3][4][6]

Đây củng là một cập thuận nghịch

Giáp (+) Tham
Dần (+) Bật
[2][3][4]
[1][x][6]
[9][8][7]
Quý (-) Lộc
[9][8][7]
[1][x][6]
[2][3][4]

Đây củng là một cập thuận nghịch

Nhâm (+) Cự, Canh (+) Bật
Tỵ (+) Vũ
[6][7][8]
[4][x][9]
[3][2][1]
Mùi (-) 3
[6][4][3]
[7][x][2]
[8][9][1]

Đây củng là một cập thuận nghịch

Thìn (-) Văn, Sửu (-) Phá
[4][3][2]
[6][x][1]
[7][8][9]
Bính (+) Phụ
[7][8][9]
[6][x][1]
[4][3][2]

Đây củng là một cập thuận nghịch

Thân (+) Tham
[8][9][1]
[7][x][2]
[6][4][3]

Đinh (-) Phá
[8][7][6]
[9][x][4]
[1][2][3]
Hai Thân Đinh này thì đơn thân độc mã, ăn ngũ một mình

Củng thấy rằng, nguyên bàn thì đối đãi hợp thập, thuận nghịch bài ai thì lại hợp sinh thành. Hợp 10 vào hợp sinh thành (1-6, 2-7, 3-8, 4-9) đều là gốc rể của Hà Lạc!!!
Từ 24 thế thuận nghịch phân ra thành 24 sơn hướng

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 5

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 5

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Theo Bách Trạch thì:
Tây Tứ Trạch gồm có:
Càn Khôn Cấn Đoài
Đông Tứ Trạch gồm có:
Khãm Ly Chấn Tốn.

Nay hỏi tại sao Càn Khôn Cấn Đoài lại gọi là Tây Tứ Trạch, và Khãm Ly Chấn Tốn thì gọi là Đông Tứ Trạch.
Dĩ nhiên khi Bát San đã ghép vào Hậu Thiên Bát Quái thì là sao có câu trả lời hợp lý!!! Bỡi vì nguyên lý của Bách Trạt Ban Sát là căn cứ vào Hà Đồ, Lạc số phối với Tiên Thiên Bát Quái.
Nay chúng ta liệt kê 8 Trạch theo Tiên Thiên để xem xét nhé:
PV = Phục Vị
SK = Sinh Khí
TY = Thiên Y
DN = Diên Niên
NQ = Ngủ Quỷ
TM = Tuyệt Mạng
HH = Họa Hại
LS = Lục Sát


Càn 9 Trạch
[4 SK][9 PV][2 HH]
[3 TM][ 9 -][7 LS]
[8 NQ][1 DN][6 TY]
Khôn 1 Trạch
[4 TY][9 DN][2 NQ]
[3 LS][ 1 -][7 TM]
[8 HH][1 PV][6 SK]
Cấn 6 Trạch
[4 DN][9 TY][2 TM]
[3 HH][ 6 -][7 NQ]
[8 LS][1 SK][6 PV]
Đoài 4 Trạch
[4 PV][9 SK][2 LS]
[3 NQ][ 4 -][7 HH]
[8 TM][1 TY][6 DN]

Khãm 7 Trạch
[4 HH][9 LS][2 SK]
[3 DN][ 7 -][7 PV]
[8 TY][1 TM][6 NQ]
Ly 3 Trạch
[4 NQ][9 TM][2 TY]
[3 PV][ 3 -][7 DN]
[8 SK][1 LS][6 HH]
Chấn 8 Trạch
[4 TM][9 NQ][2 DN]
[3 SK][ 8 -][7 TY]
[8 PV][1 HH][6 LS]
Tốn 2 Trạch
[4 LS][9 HH][2 PV]
[3 TY][ 2 -][7 SK]
[8 DN][1 NQ][6 TM]

4 trạch Càn Khôn Cấn Đoài sẻ thấy rằng 4 san tốt PV, SK, TY, DN đều nằm ở hai cánh 4-9 Kim, 1-6 Thủy của Hà Đồ. Kim Thủy trong Hà Đồ nằm ở phía Tây cho nên 4 trạch này (Càn Khôn Cấn Đoài) gọi là Tây Tứ Trạch!!! Lại xét về Âm Dương Lưỡng Nghi thì ta thấy Tây Tứ Trạch đều thuộc Thái (Thái Dương và Thái Âm).
4 trạch Khãm Ly Chấn Tốn sẻ thấy rằng 4 san tốt PV, SK, TY, DN đều nằm ở hai cánh 3-8 Mộc, 2-7 Hỏa. Mộc Hỏa trong Hà Đồ nằm ở phía Đông cho nên 4 trạch này (Khãm Ly Chấn Tốn) gọi là Đông Tứ Trạch. Lại xét về Âm Dương Lưỡng Nghi thì ta thấy Đông Tứ Trạch đều thuộc Thiếu (Thiếu Dương và Thiếu Âm).

Đây chính là lý do tại sao gọi Đông Tây Tứ Trạch!!!
Đông Tây củng là Lưỡng Nghi Thái Thiếu !!!

Lại xét rằng các San Tốt của Tây Tứ Trạch đề nằm trong 2 cánh trên dưới, và các San Tốt của Đông Tứ Trạch đều nằm trong 2 cánh phải trái của chử Vạn. Nếu các bạn có ngâm cứu sâu vào Huyền Không 64 Quái thì sẻ thấy nguyên tắc chử Vạn thật rất là quan trọng bỡi vì nó chính là cái lý Sinh Thành của Hà Đồ!!!

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 4

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 4

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Giang Đông: quy tàng quái đổi 1 hào
Giang Tây: quy tàng quái đổi 2 hào.

Đổi 1 hào có 3: sơ, trung, thượng mà thành Chấn 8, Khãm 7, Cấn 6
Đổi 2 hào có 3: trung thượng, sơ thượng và sơ trung mà thành Tốn 2, Ly 3, Đoài 4

Bắc quái Vận 1: 3 hào không biến chỉ cho được quẻ Khôn 1
Nam quái Vận 9: biến 3 hào mà chỉ cho được quẻ Càn 9
Cho nên nói Nam Bắc Bát Thần, tức là bát thần của mỗi vận cộng lại chỉ có được 1 quái thôi!!!
Vì vậy mới nói:
Nam Bắc bát thần cộng nhất quái!!!
(KHông phải lấy Vận 9 và Vận 1 cộng lại thành Thiên Địa Bỉ càn khôn định vị)

Thêm cái đồ hình

Tất cả các loại Bát Quái sau đây đều căn cứ theo sự thu nhập, tức nhìn từ ngoài vào trong.

Bát Quái Sinh Khí

[7][6][4]
[8][-][3]
[9][1][2]

——-

6-1, 7-2, 8-3, 9-4 = Sinh Khí

Bát Quái Thiên Y
[9][4][7]
[3][-][2]
[8][1][6]

——-

4-1, 9-6, 3-2, 8-7 = 5 Thiên Y

Bát Quái Họa Hại
[6][1][7]
[9][-][2]
[4][8][3]

——-

1-8, 6-3 = 9
9-2, 4-7 = 1

Bát Quái Ngũ Quỷ
[6][1][8]
[4][-][3]
[9][2][7]

——-

1-2, 6-7 = 3
4-3, 9-8 = 7
3, 7 Ngũ Quỷ

Bát Quái Tuyệt Mạng
[6][1][8]
[9][-][3]
[4][7][2]

——-

1-7, 6-2 = 8
9-3, 4-8 = 2
2, 8 Tuyệt Mạng

Bác Quái Lục Sát
[9][4][8]
[1][-][3]
[6][2][7]

——-

4-2, 9-7 = 6
1-3, 6-8 = 4
4, 6 Lục Sát

Dĩ nhiên phía trên chỉ là một phần nhỏ. Nếu ta coi tám cung, cung đầu có thể bỏ vào 1 trong 8 quái, cung hai có thể bỏ vào 1 trong 7 quái, vv…. Thì tất cả sẻ có
8x7x6x5x4x3x2x1 = 40320 cách sắp xếp 8 quái vào 8 cung!!!

có sử dụng Bát Quái để Trấn, thì chỉ nên dùng Bát Quái Tiên Thiên, đừng treo cái Hậu Thiên Bát Quái bỡi vì như sau:

Hậu Thiên Bát Quái
[2][3][1]
[8][-][4]
[6][7][9]

——-

3-7 = 10 Diên Niên
2-9 = 1 Họa Hại
8-4 = 2 Tuyệt Mạng
6-1 = Ngũ Quỷ
Quá Tạp!!!

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 3

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 3

1-9 là Tham, Bật, là Nam Bắc quái, phụ mẫu quái
2 là Cự – Giang Tây quái Thiên nguyên Long
3 là Lộc – Giang Tây quái Nhân nguyên Long
4 là Văn – Giang Tây quái Địa nguyên Long
6 là Vũ – Giang Đông quái Địa nguyên Long
7 là Phá – Giang Đông quái Nhân nguyên Long
8 là Phụ – Giang Đông quái Thiên nguyên Long

Nhất vận:
Nhứt vận bát quái là 1 của 1, là Tham Lang, là Nam Bắc bát thần, là phụ mẫu quái.
Thượng quái
☷ ☶ ☵ ☴ ☳ ☲ ☱ ☰

Hạ quái:
☷ ☶ ☵ ☴ ☳ ☲ ☱ ☰

Thành quái:
Khôn Cấn Khảm Tốn Chấn Ly Đoài càn


Nhứt vận Tham Lang quái là quái thứ 1 trong bát quái, cho nên là bát quái 1 của 1. Trong 8 quái này thì quái trên với quái dưới là tương đồng, thuộc bước 1 của bát quái nên thuộc về nhứt vận quái. Tinh danh là Tham lang thuộc Bắc quái, còn gọi là phụ quái, với Nam quái mẫu quái hợp gọi là Nam Bắc phụ mẫu quái

Nhị vận:
Nhị vận bát quái là 2 của 1, là Cự môn, là Giang Tây quái, là Thiên nguyên long, nó từ nhứt vận Tham lang quái biến qua, nên gọi là 2 của 1. Một là nhứt vận Tham Lang quái, hai là nhị vận Cự môn quái
Thượng quái
☰ ☱ ☲ ☳ ☴ ☵ ☶ ☷

Hạ quái:
☳ ☲ ☱ ☰ ☷ ☶ ☵ ☴

Thành quái:
Vô vọng Cách Khuê Đại tráng Quán Kiển Mông Thăng

Tam vận:

Tam vận bát quái là 3 của 1, là Lộc tồn, là Giang tây quái, là nhân nguyên long. Nó do nhứt vận Tham lang biến qua, nên gọi là 3 của 1. Một là nhứt vận Tham Lang quái, ba là tam vận Lộc Tồn quái.

Thượng quái
☰ ☱ ☲ ☳ ☴ ☵ ☶ ☷

Hạ quái:
☵ ☴ ☷ ☶ ☱ ☰ ☳ ☲

Thành quái:
Tụng Đại quá Tấn Tiểu quá Trung phu Di Minh sản

Tứ vận

Tứ vận bát quái là 4 của 1, là văn khúc, là Giang Tây quái, là Địa nguyên long. Do nhứt vận Tham Lang biến ra, nên gọi là 4 của 1. Một là nhứt vận Tham lang, bốn là tứ vận Văn khúc quái

Thượng quái
☰ ☱ ☲ ☳ ☴ ☵ ☶ ☷

Hạ quái:
☶ ☷ ☴ ☵ ☲ ☳ ☰ ☱

Thành quái:
Độn Tụy Đỉnh Giải Gia nhân Truân Đại súc Lâm

Các vận khác cứ thế mà suy

=====================================

Thật ra cái nguồn gốc của 8 cái Kim Long Thủy Khẩu đồ chính là từ 8 Vận của Huyền Không Đại Quái (64 Quái), lấy quẻ Càn đại diện Kim Long, quy tàng cùng các thượng quái mà thành!!!

Sự sắp xếp trong Nguyên Không Pháp giám để nội ngoại thành ngoại nội để cho dễ thấy sự biến đổi của các hào so với quẻ Càn Kim Long . Theo quy tắc thì bản cung là nội quái bất biến.
Nếu quý khách sắp xếp lại thì tất cả đều đâu vào đó.

Vận 1, dùng Kim Long Càn (động 3 hào), quy tàng với các ngoại (thượng) quái biến thành các quái của Vận 9
Vận 2, dùng Kim Long Càn quy tàng với các thượng quái biến thành các quẻ của vận 8.

Đây là quy tắc phu phụ ấy mà!!!
Tiểu Sinh đang cố gắn vẻ thêm mấy cái đồ hình để cho hai con ngươi của mình nó thấy rỏ chút. Hihihihihiihi

Như vậy quy tắc chỉ là lấy vận (8 vận của đại quái) hợp thập của cung toạ (sơn), sau đó tìm quẻ thượng Đoài Tốn, làm thủy khẩu cho bản nguyên, lấy quẻ thượng Chấn Cấn làm thủy khẩu cho ngoại nguyên!!!

Tất cả đều theo cái nguyên lý hợp Sinh Thành theo chử Vạn (thuận đoài nghịch tốn) của nhà Phật . Các bạn xem các đồ sau:
Thượng Nguyên Vận 1,2,3,4
Đỏ: Bản cung (Vận)
Vàng: Bản Nguyên Thủy (Thượng Nguyên)
Xanh: Ngoại Nguyên Thủy (Hạ Nguyên)

Bây giờ ta hãy xem tại sao dùng thượng quái Đoài dùng cho thuận lai thủy.Thượng Đoài lúc nào củng là cập Sinh Thành cùng với thượng Càn không?
Tại sao dùng thượng Chấn cho ngoại nguyên thuận lai thủy?
Bơi vài Đoài và Chấn lúc nào củng nằm cùng nghi (lưỡng nghi, 1672, 9438)
Tại vì Tốn và Cấn lại dùng cho nghịch lai thủy, vì chúng lúc nào củng nằm cùng một nghi (1672, hoặc 9438)
Ta củng biết dịch nói
Càn thống ta dưong (hùng): Chấn Khãm Cấn
Khôn thống ta âm (thư): Tốn Ly Đoài
Theo số Tiên Thiên thì ta có
Càn 9, Chấn 8, Khãm 7, Cấn 6
Khôn 1, Tốn 2, Ly 3, Đoài 4

Trong 8 Vận của 64 quái, khi ta quy tàng thượng hạ đơn quái với nhau thì kết quả chính là đơn quái của Vận, nghĩa là, 8 quái vận 1 đều là bát thuần, khi quy tàng thượng hạ đều cho ta quẻ Khôn 1, ấy chính là vận 1, bỡi vì quẻ Khôn 3 hào âm, bất biến.
Như Vận 2, khi ta quy tàng thượng hạ quái của 8 quẻ trùng trong vận 2, đều cho ta quái Tốn 2, cho nên 8 quẻ đó thuộc về vận 2. Ta thấy quẻ Tốn, hào hạ âm bất biến, hào giữa và hào thượng là dương hào, cho nên các trùng quái trong vận 2 đều có hào giữa và hào thượng biến (khi so sánh thượng với hạ).
Như Vận 9, thì ta thấy khi quy tàng thượng hạ đơn quái đều cho ra quẻ Càn 9, củng là Vận 9.
Các Vận khác đều như vậy.

Thế tại sao gọi Vận 1 là Phụ và Vận 9 là Mẫu?

Vận 1, 8 quái đều là Bát Thuần, theo quy tắc Dịch và phong tục gia đình đông phương thì đứng đầu trong gia đình là Phụ, mà Vận 1 đều là các quẻ Bát Thuần nên nó là Phụ vậy.
Vận 9, 8 quái đều có 3 hào biến, mà Càn Phụ bị giải phẩu đổi tông từ trong, giữa, tới ngoài (3 hào) thì thanh Mẫu. Hihihihihihi
Vận 1 quy tàng quẻ Khôn, nhưng gọi là Phụ, Vận 9 quy tàng quẻ Càn nhưng lại gọi là Mẫu, có phải là Điên Điên Đảo hông thứa quý khách!!!

Nay lấy Vận 1 là Phụ chúng ta biến lần lượt các hào từ 1 tới 6, sau đó so sánh (hay quy tàng) thượng hạ quái xem nó thuộc Vận nào?
Vận 1:
biến hào sơ, quy tàng thành quẻ Chấn tức Vận 8
biến hào 2, quy tàng thành quẻ Khãm tức Vận 7
biến hào 3, quy tàng thành quẻ Cấn tức Vận 6
biến hào 4, quy tàng thành quẻ Chấn tức Vận 8
biến hào 5, quy tàng thành quẻ Khãm tức Vận 7
biến hào 6, quy tàng thành quẻ Cấn tức Vận 6
A các bạn có thấy Phụ Quái Vận 1 sinh ra Vận 8 quẻ Chấn, Vận 7 quẻ Khãm, Vận 6 quẻ Cấn (quy tàng) hông.

Vận 9:
Thượng Hạ quái của các trùng quái trong Vận 9 đều khác nhau 3 hào (vì là quy tàng quẻ Càn 9 = Vận 9)
3 Hào khác nhau mà biến hào sơ thành ra hào sơ không biến.
biến hào sơ, quy tàng thành quẻ Tốn 2
biến hào 2, quy tàng thành quẻ Ly 3
biến hào 3, quy tàng thành quẻ Đoài 4
biến hào 4, quy tàng thành quẻ Tốn 2
biến hào 5, quy tàng thành quẻ Ly 3
biến hào 6, quy tàng thành quẻ Đoài 4
A các bạn có thấy Mẫu Quái Vận 9 sinh ra Vận 2 quẻ Tốn, Vận 3 quẻ Ly, Vận 4 quẻ Đoài hông?

Ấy thế mới nói Phụ Mầu sinh ra Tam Bang quái mà!!!
Nay nhìn lại cái Bản Tiên Thiên Bát Quái phối Lạc Số nhé:
[4][9][2]
[3][5][7]
[8][1][6]

Bây giờ ta nhảy vào cung giữa, vẻ đường ranh giới dưới số 3 Ly, xuyên qua Trung 5, và trên số 7 Khãm. Ta gọi cái ranh giới này là Giang. Từ trong cái Giang này nhìn ra bên trái thì có Chấn 8, Khôn 1, Cấn 6, Khãm 7 đều là phía Đông, Vận 1 là Phụ, cho nên Vận 8, Vận 7, Vận 6 còn lại đều gọi là Giang Đông Quái. Nhìn ra bên phải thì có Tốn 2, Càn 9, Đoài 4, Ly 3 đều là phía Tây, Vận 9 là Mẫu, cho nên Vận 2, Vận 3, Vận 4 còn lại đều gọi là Giang Tây Quái.
Đặt biện Vận 1 Vận 9 vừa là Phụ Mẫu vừa là Nam (Càn 9), Bắc (Khôn 1) Quái.

Nay ta biết cái gì gọi là Phụ Mầu, Giang Đông và Giang Tây, bây giờ ta thử giải mã mấy câu sau trong Thiên Ngọc Kinh Nội Truyền nhé.

Giang Đông nhất quái tòng lai kiết
Bát thần tứ cá nhất
Giang Tây nhất quái bài long vị
Bát thần tứ cá nhị
Nam Bắc bát thần cộng nhất quái
Đoan đích ứng vô soa.

Giang Đông quái gồm Vận 8, Vận 7, Vận 6, có quy tàng quái là Chấn 8, Khãm 7, Cấn 6, đều chỉ có 1 hào biến (quy tàng quẻ chỉ có 1 hào dương biến). Mà 8 trùng quái của mỗi vận chỉ có 4 tổ hợp, như sau:
Vận 8 có bốn tổ hợp, đều biến ở hào sơ (Vận 8 quy tàng quẻ Chấn, hào sơ là dương biến)
Càn Tốn, Tốn Càn
Khãm Đoài, Đoài Khãm
Cấn Ly, Ly Cấn
Chấn Khôn, Khôn Chấn.

Vận 7 có bốn tổ hợp, đều biến ở hào giữa (Vận 7 quy tàng quẻ Khãm, hào dương giữa biến)
Ly Càn, Càn Ly
Chấn Đoài, Đoài Chấn
Cấn Tốn, Tốn Cấn
Khôn Khãm, Khãm Khôn

Vận 6 có bốn tổ hợp, đều biến ở hào thượng (Vận 6 quy tàng quẻ Cấn, hào thượng dương biến)
Đoài Càn, Càn Đoài
Chấn Ly, Ly Chấn
Cấn Khôn, Khôn Cấn
Tốn Khãm, Khãm Tốn

Thưa các bạn đây chính là
Giang Đông nhất quái tòng lai kiết,
bát thần (8 quẻ trùng), tứ cá (4 tổ hợp) nhất (chỉ biến 1 hào)

Giang Tây quá gồm Vận 2, Vận 3, Vận 4, có quy tàng quái là Tốn 2, Ly 3, Đoài 4, đều có 2 hào biến.
8 trùng quái của mỗi vận chỉ có 4 tổ hợp:
Vận 2 có bốn tổ hợp, đều biến 2 hào trung thượng (Vận 2 quẻ Tốn, hào trung thượng dương biến)
Chấn Càn, Càn Chấn
Ly Đoài, Đoài Ly
Tốn Khôn, Khôn Tốn
Cấn Khãm, Khãm Cấn

Vận 3 có bốn tổ hợp, đều biến 2 hào sơ thượng (Vận 3 quẻ Ly, hào sơ thượng dương biến)
Khãm Càn, Càn Khãm
Tốn Đoài, Đoài Tốn
Khôn Ly, Ly Khôn
Cấn Chấn, Chấn Cấn

Vận 2 có bốn tổ hợp, đều biến 2 hào trung thượng (Vận 2 quẻ Tốn, hào trung thượng dương biến)
Cấn Càn, Càn Cấn
Khôn Đoài, Đoài Khôn
Tốn Ly, Ly Tốn
Khãm Chấn, Chấn Khãm

Thưa các bạn đây chính là
Giang Tây nhất quái bài long vị,
bát thần (8 quẻ trùng), tứ cá (4 tổ hợp) nhị (biến 2 hào)

Thế tại sao Nam Bắc Bát Thần cộng lại chỉ có 1 quái???

NGUYÊN LÝ BÁT TRẠCH – PHẦN 2

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 2

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Theo Quy Tàng pháp thì
hào dương + hào dương = hào âm
hào âm + hào âm = hào âm
hào dương + hào âm = hào dương
hào âm + hào dương = hào dương.
(hai hào giống nhau thì là âm, khác nhau thì là dương, giống như cái XOR của toán boolean ấy mà)

Cho nên cung Càn ta có
Càn + Càn = , 9, 9 = đồng loại, Phục Vị
Càn + Đoài = , 9, 4 = sinh thành, Sinh Khí
Càn + Ly = , 9, 3 = tương khắc, 9+3 = 2 Tuyệt Mạng
Càn + Chấn = , 9, 8 = tương khắc, 9+8 = 7 Ngũ Quỷ
Càn + Tốn = , 9, 2 = tương khắc, 9+2 = 1 Họa Hại

Càn + Khãm = , 9, 7 = tương khắc, 9+7 = 6 Lục Sát
Càn + Cấn = , 9, 6 = tương sinh, 9+6 = 5 Thiên Y
Càn + Khôn = , 9, 1 = hợp thập, 9+1=10 Diên Niên
Các cung khác đều tính tương tự

Như vậy ta thấy rằng theo Quy Tàng pháp thì Quy Tàng quái và Bát San có liên hệ như sau:
Quái Càn  là Diên Niên
Quái Đoài  là Thiên Y
Quái Ly  là Lục Sát
Quái Chấn  là Họa Hại
Quái Tốn  là Ngũ Quỷ
Quái Khãm  là Tuyệt Mạng
Quái Cấn  là Sinh Khí
Quái Khôn  là Phục Vị

Bây giờ ta lấy quy tàng quái bỏ vào Bát San của 8 cung Tiên Thiên

Càn = DN = Diên Niên
Đoài = TY = Thiên Y
Ly = TM = Lục Sát
Chấn = HH = Họa Hại
Tốn = NQ = Ngũ Quỷ
Khãm = TM = Tuyệt Mạng
Cấn = SK = Sinh Khí
Khôn = PV = Phục Vị

Càn 9
[SK 49][PV 99][HH 29]
[TM 39][- 9 -][LS 79]
[NQ 89][DN 19][TY 69]
Loại bỏ số 9 của bản cung.
[6 Cấn -4][1 Khôn 9][8 Chấn 2]
[7 Khãm 3][— 9 –][3 Ly –7]
[2 Tốn -8][9 Càn -1][4 Đoài 6]

Khôn 1
[TY 41][DN 91][NQ 21]
[LS 31][- 1 -][TM 71]
[HH 81][PV 11][SK 61]
Loại bỏ số 1 của bản cung.
[4 Đoài 4][9 Càn -9][2 Tốn -2]
[3 Ly –3][— 1 –][7 Khãm 7]
[8 Chấn 8][1 Khôn 1][6 Cấn -6]

Cấn 6
[DN 46][TY 96][TM 26]
[HH 36][- 6 -][NQ 76]
[LS 86][SK 16][PV 66]
Loại bỏ số 6 của bản cung.
[9 Càn -4][4 Đoài 9][7 Khãm 2]
[8 Chấn 3][— 6 –][2 Tốn -7]
[3 Ly –8][6 Cấn -1][1 Khôn 6]

Đoài 4
[PV 44][SK 94][LS 24]
[NQ 34][- 4 -][HH 74]
[TM 84][TY 14][DN 64]
Loại bỏ số 4 của bản cung.
[1 Khôn 4][6 Cấn -9][3 Ly –2]
[2 Tốn -3][— 4 –][8 Chấn 7]
[7 Khãm 8][4 Đoài 1][9 Càn -6]

Khãm 7
[HH 47][LS 97][SK 27]
[DN 37][- 7 -][PV 77]
[TY 87][TM 17][NQ 67]
Loại bỏ số 7 của bản cung.
[8 Chấn 4][3 Ly –9][6 Cấn -2]
[9 Càn -3][— 7 –][1 Khôn 7]
[4 Đoài 8][7 Khãm 1][2 Tốn -6]

Ly 3
[NQ 43][TM 93][TY 23]
[PV 33][- 3 -][DN 73]
[SK 83][LS 13][HH 63]
Loại bỏ số 3 của bản cung.
[2 Tốn-4][7 Khãm 9][4 Đoài 2]
[1 Khôn3][— 3 –][9 Càn -7]
[6 Cấn-8][3 Ly –1][8 Chấn 6]

Chấn 8
[TM 48][NQ 98][DN 28]
[SK 38][- 8 -][TY 78]
[PV 88][HH 18][LS 68]
Loại bỏ số 8 của bản cung.
[7 Khãm4][2 Tốn -9][9 Càn -2]
[6 Cấn-3][— 8 –][4 Đoài 7]
[1 Khôn8][8 Chấn 1][3 Ly –6]

Tốn 2
[LS 42][HH 92][PV 22]
[TY 32][- 2 -][SK 72]
[DN 82][NQ 12][TM 62]
Loại bỏ số 2 của bản cung.
[3 Ly –4][8 Chấn 9][1 Khôn 2]
[4 Đoài 3][— 2 –][6 Cấn -7]
[9 Càn -8][2 Tốn -1][7 Khãm 6]

Gom 8 cái cửu cung mới lại như sau:

[4 Đoài 4][9 Càn -9][2 Tốn -2]
[3 Ly –3][— 1 –][7 Khãm 7]
[8 Chấn 8][1 Khôn 1][6 Cấn -6]

[3 Ly –4][8 Chấn 9][1 Khôn 2]
[4 Đoài 3][— 2 –][6 Cấn -7]
[9 Càn -8][2 Tốn -1][7 Khãm 6]

[2 Tốn-4][7 Khãm 9][4 Đoài 2]
[1 Khôn3][— 3 –][9 Càn -7]
[6 Cấn-8][3 Ly –1][8 Chấn 6]

[1 Khôn 4][6 Cấn -9][3 Ly –2]
[2 Tốn -3][— 4 –][8 Chấn 7]
[7 Khãm 8][4 Đoài 1][9 Càn -6]

[9 Càn -4][4 Đoài 9][7 Khãm 2]
[8 Chấn 3][— 6 –][2 Tốn -7]
[3 Ly –8][6 Cấn -1][1 Khôn 6]

[8 Chấn 4][3 Ly –9][6 Cấn -2]
[9 Càn -3][— 7 –][1 Khôn 7]
[4 Đoài 8][7 Khãm 1][2 Tốn -6]

[7 Khãm4][2 Tốn -9][9 Càn -2]
[6 Cấn-3][— 8 –][4 Đoài 7]
[1 Khôn8][8 Chấn 1][3 Ly –6]

[6 Cấn -4][1 Khôn 9][8 Chấn 2]
[7 Khãm 3][— 9 –][3 Ly –7]
[2 Tốn -8][9 Càn -1][4 Đoài 6]

Giờ ta đơn giản nó một chút cho dễ thấy, bỏ tên các quái ra, ta có
[44][99][22]
[33][ 1][77]
[88][11][66]

[34][89][12]
[43][ 2][67]
[98][21][76]

[24][79][42]
[13][ 3][97]
[68][31][86]

[14][69][32]
[23][ 4][87]
[78][41][96]

[94][49][72]
[83][ 6][27]
[38][61][16]

[84][39][62]
[93][ 7][17]
[48][71][26]

[74][29][92]
[63][ 8][47]
[18][81][36]

[64][19][82]
[73][ 9][37]
[28][91][46]

Bây giờ ta thế các quái vào 8 cung:
[44 Thuần Tốn-][99 Thuần Càn-][22 Thuần Tốn-]
[33 Thuần Ly–][—– 1 —–][77 Thuần Khãm]
[88 Thuần Chấn][11 Thuần Khôn][66 Thuần Cấn-]

[34 Khuê—-][89 ĐạiTráng][12 Thăng–]
[43 Cách—-][—- 2 —-][67 Mông—]
[98 VôVọng–][21 Quan—-][76 Kiển—]

[24 TrungPhu][79 Nhu—–][42 ĐạiQuá-]
[13 MinhDi–][—- 3 —-][97 Tụng—]
[68 Di——][31 Tấn—–][86 TiểuQuá]

[14 Lâm—–][69 ĐạiSúc–][32 Đảnh—]
[23 GiaNhân-][—- 4 —-][87 Giải—]
[78 Truân—][41 Tụy—–][96 Độn—-]

[94 Lý——][49 Quải—-][72 Tỉnh—]
[83 Phong—][—- 6 —-][27 Hoán—]
[38 PhệHạp–][61 Bác—–][16 Khiêm–]

[84 QuiMuội-][39 ĐạiHữu–][62 Cổ—–]
[93 ĐồngNhân][—- 7 —-][17 Sư—–]
[48 Tùy—–][71 Tỉ——][26 Tiệm—]

[74 Tiết—-][29 TiểuSúc-][92 Cấu—-]
[63 Bí——][—- 8 —-][47 Khổn—]
[18 Phục—-][81 Dự——][36 Lữ—–]

[64 Tổn—–][19 Thái—-][82 Hằng—]
[73 KýTế—-][—- 9 —-][37 VịTế—]
[28 Ích—–][91 Bỉ——][46 Hàm—-]

Đây là 8 vận của Huyền Không Đại Quái (64 Quái)!!!

Nếu đem sắp xếp từng quái vào các cung (số thứ hai là bản cung), theo thứ tự Tiên Thiên 94382761, thì Wuala, bạn có Viên Đồ!!!
Đổi chổ hai số với nhau (như 94 thành 49) rồi sắp xếp lại theo cung (số thứ hai rồi đi theo thứ tự 16728349, thì Wuala, bạn có Phương đồ biến Viên.

Trong tất cả 8 đồ, con số thứ hai chính là nguyên đán bàn
[4][9][2]
[3][5][7]
[8][1][6]

Nay loại bỏ số của nguyên đán bàn chúng ta có 8 đồ như sau:
Vận 1
[4][9][2]
[3][1][7]
[8][1][6]
Vận 2
[3][8][1]
[4][2][6]
[9][2][7]
Vận 3
[2][7][4]
[1][3][9]
[6][3][8]
Vận 4
[1][6][3]
[2][4][8]
[7][4][9]
Vận 6
[9][4][7]
[8][6][2]
[3][6][1]
Vận 7
[8][3][6]
[9][7][1]
[4][7][2]
Vận 8
[7][2][9]
[6][8][4]
[1][8][3]
Vận 9
[6][1][8]
[7][9][3]
[2][9][4]

Nay chúng ta bỏ số 5 vào giữa
Vận 1
[4][9][2]
[3][5][7]
[8][1][6]
Vận 2
[3][8][1]
[4][5][6]
[9][2][7]
Vận 3
[2][7][4]
[1][5][9]
[6][3][8]
Vận 4
[1][6][3]
[2][5][8]
[7][4][9]
Vận 6
[9][4][7]
[8][5][2]
[3][6][1]
Vận 7
[8][3][6]
[9][5][1]
[4][7][2]
Vận 8
[7][2][9]
[6][5][4]
[1][8][3]
Vận 9
[6][1][8]
[7][5][3]
[2][9][4]

Thưa các bạn đây là 8 cái đồ Bí Trung Chi Bí , Thiên Cơ Mật của Huyền Không 64 quái (và Viên Phương Đồ)!!!
Nếu các bạn vẻ các đường thẳng nối các số lại từ 1 tới 9, thì các bạn sẻ có 8 đường lường thiên xích đều hợp thập.

Bây giờ ta lại bỏ các quái vào để nghiên cứu nhé:
Vận 1
[Đoài][Càn-][Tốn-]
[Ly–][-5–][Khãm]
[Chấn][Khôn][Cấn-]
Vận 2
[Ly–][Chấn][Khôn]
[Đoài][-5–][Cấn-]
[Càn-][Tốn-][Khãm]
Vận 3
[Tốn-][Khãm][Đoài]
[Khôn][-5–][Càn-]
[Cấn-][Ly–][Chấn]
Vận 4
[Khôn][Cấn-][Ly–]
[Tốn-][-5–][Chấn]
[Khãm][Đoài][Càn-]
Vận 6
[Càn-][Đoài][Khãm]
[Chấn][-5–][Tốn-]
[Ly–][Cấn-][Khôn]
Vận 7
[Chấn][Ly–][Cấn-]
[Càn-][-5–][Khôn]
[Đoài][Khãm][Tốn-]
Vận 8
[Khãm][Tốn-][Càn-]
[Cấn-][-5–][Đoài]
[Khôn][Chấn][Ly–]
Vận 9
[Cấn-][Khôn][Chấn]
[Khãm][-5–][Ly–]
[Tốn-][Càn-][Đoài]

Các bạn để ý quẻ Càn nhé, đố các bạn nó là gì?

Kim Long đấy!!!
Bây giờ ta lấy số 5 tượng cho Kim Long quẻ Càn, theo thứ tự lường thiên xích của Tiên Thiên mà vận hành xem:
Vận 1
[Đoài][Càn-][Tốn-]
[Ly–][-5–][Khãm]
[Chấn][Khôn][Cấn-]
[9][5][7]
[8][1][3]
[4][6][2]
Vận 2
[Ly–][Chấn][Khôn]
[Đoài][-5–][Cấn-]
[Càn-][Tốn-][Khãm]
[1][6][8]
[9][2][4]
[5][7][3]
Vận 3
[Tốn-][Khãm][Đoài]
[Khôn][-5–][Càn-]
[Cấn-][Ly–][Chấn]
[2][7][9]
[1][3][5]
[6][8][4]
Vận 4
[Khôn][Cấn-][Ly–]
[Tốn-][-5–][Chấn]
[Khãm][Đoài][Càn-]
[3][8][1]
[2][4][6]
[7][9][5]
Vận 6
[Càn-][Đoài][Khãm]
[Chấn][-5–][Tốn-]
[Ly–][Cấn-][Khôn]
[5][1][3]
[4][6][8]
[9][2][7]
Vận 7
[Chấn][Ly–][Cấn-]
[Càn-][-5–][Khôn]
[Đoài][Khãm][Tốn-]
[6][2][4]
[5][7][9]
[1][3][8]
Vận 8
[Khãm][Tốn-][Càn-]
[Cấn-][-5–][Đoài]
[Khôn][Chấn][Ly–]
[7][3][5]
[6][8][1]
[2][4][9]
Vận 9
[Cấn-][Khôn][Chấn]
[Khãm][-5–][Ly–]
[Tốn-][Càn-][Đoài]
[8][4][6]
[7][9][2]
[3][5][1]
Ý chết, sao nó biến thành 8 vận của Phi Tinh vậy!!!

A) Sự liên quan giữa Quy Tàng Dịch và 8 Vận của Huyền Không 64 quái.
Trong 8 vận của Huyền Không 64 quái, tại sao trong mỗi vận các trùng quái lại có sự sắp xếp như thế???
Như trên đã trình bày về Quy Tàng pháp,
hào dương + hào dương = hào âm
hào âm + hào âm = hào âm
hào dương + hào âm = hào dương
hào âm + hào dương = hào dương
.
(hai hào giống nhau thì là âm, khác nhau thì là dương, giống như cái XOR của toán boolean )

Tức khi ta lấy hai đơn quái giao nhau theo Quy Tàng Pháp thì sẻ cho ta một đơn quái, tạm gọi là Quy Tàng Quái.

Nay chúng ta áp dụng Quy Tàng Pháp vào các trùng quái trong 8 vận của Huyền Không Đại Quái (64 quái):
Vận 1 của Huyền Không Đại Quái có các quái như sau:
[44 Thuần Tốn-][99 Thuần Càn-][22 Thuần Tốn-]
[33 Thuần Ly–][—– 1 —–][77 Thuần Khãm]
[88 Thuần Chấn][11 Thuần Khôn][66 Thuần Cấn-]
Lấy hai quẻ nội ngoại giao nhau theo quy tàng pháp thì kết quả như sau:
99, Thuần Càn, Càn + Càn = Khôn
44, Thuần Đoài, Đoài + Đoài = Khôn
33, Thuần Ly, Ly + Ly = Khôn
88, Thuần Chấn, Chấn + Chấn = Khôn
22, Thuần Tốn, Tốn + Tốn = Khôn
77, Thuần Khãm, Khãm + Khãm = Khôn
66, Thuần Cấn, Cấn + Cấn = Khôn
Vận 1 đều là Khôn mà số Tiên Thiên của quẻ Khôn là 1

Vận 2
[34 Khuê—-][89 ĐạiTráng][12 Thăng–]
[43 Cách—-][—- 2 —-][67 Mông—]
[98 VôVọng–][21 Quan—-][76 Kiển—]
Lại lấy quẻ nội và ngoại giao nhau ta có
89, Lôi Thiên Đại Tráng, Chấn + Càn = Tốn
34, Hỏa Trạch Khuê, Ly + Đoài = Tốn
43, Trạch Hỏa Cách, Đoài + Ly = Tốn
98, Thiên Lôi Vô Vọng, Càn + Chấn = Tốn
12, Địa Phong Thăng, Khôn + Tốn = Tốn
Vận 2 đều là Tốn mà số Tiên Thiên của quẻ Tốn là 2

Vận 3
[24 TrungPhu][79 Nhu—–][42 ĐạiQuá-]
[13 MinhDi–][—- 3 —-][97 Tụng—]
[68 Di——][31 Tấn—–][86 TiểuQuá]
79, Thủy Thiên Nhu, Khãm + Càn = Ly
24, Phong Trạch Trung Phu, Tốn + Đoài = Ly
13, Địa Hỏa Minh Di, Khôn + Ly = Ly
68, Sơn Lôi Di, Cấn + Chấn = Ly
42, Trạch Phong Đại Quá, Đoài + Tốn = Ly
97, Thiên Thủy Tụng, Càn + Khãm = Ly
86, Lôi Sơn Tiểu Quá, Chấn + Cấn = Ly
Vận 3 tất cả đều quy tàng thành Ly, mà số Tiên Thiên của Ly chính là 3

Vận 4
[14 Lâm—–][69 ĐạiSúc–][32 Đảnh—]
[23 GiaNhân-][—- 4 —-][87 Giải—]
[78 Truân—][41 Tụy—–][96 Độn—-]
69, Sơn Thiên Đại Súc, Cấn + Càn = Đoài
14, Địa Trạch Lâm, Khôn + Đoài = Đoài
23, Phong Hỏa Gia Nhân, Tốn + Ly = Đoài
78, Thủy Lôi Truân, Khãm + Chấn = Đoài
32, Hỏa Phong Đảnh, Ly + Tốn = Đoài
87, Lôi Thủy Giải, Chấn + Khãm = Đoài
96, Thiên Sơn Độn, Càn + Cấn = Đoài
Vận 4 tất cả đều quy tàng thành quẻ Đoài, mà số tiên thiên của Đoài là 4

Vận 6
[94 Lý——][49 Quải—-][72 Tỉnh—]
[83 Phong—][—- 6 —-][27 Hoán—]
[38 PhệHạp–][61 Bác—–][16 Khiêm–]
49, Trạch Thiên Quải, Đoài + Càn = Cấn
94, Thiên Trạch Lý, Càn + Đoài = Cấn
83, Lôi Hỏa Phong, Chấn + Ly = Cấn
38, Hỏa Lôi Phệ Hạp, Ly + Chấn = Cấn
72, Thủy Phong Tỉnh, Khãm + Tốn = Cấn
27, Phong Thủy Hoán, Tốn + Khãm = Cấn
16, Địa Sơn Khiêm, Khôn + Cấn = Cấn
Vận 6 tất cả đều quy tàng thành quẻ Cấn, mà số tiên thiên của Cấn là 6

Vận 7
[84 QuiMuội-][39 ĐạiHữu–][62 Cổ—–]
[93 ĐồngNhân][—- 7 —-][17 Sư—–]
[48 Tùy—–][71 Tỉ——][26 Tiệm—]
39, Hỏa Thiên Đại Hữu, Ly + Càn = Khãm
84, Lôi Trạch Qui Muội, Chấn + Đoài = Khãm
93, Thiên Hỏa Đồng Nhân, Càn + Ly = Khãm
48, Trạch Lôi Tùy, Đoài + Chấn = Khãm
62, Sơn Phong Cổ, Cấn + Tốn = Khãm
17, Địa Thủy Sư, Khôn + Khãm = Khãm
26, Phong Sơn Tiệm, Tốn + Cấn = Khãm
Vận 7 tất cả đều quy tàng thành quẻ Khãm, mà số tiên thiên của Khãm là 7

Vận 8
[74 Tiết—-][29 TiểuSúc-][92 Cấu—-]
[63 Bí——][—- 8 —-][47 Khổn—]
[18 Phục—-][81 Dự——][36 Lữ—–]
29, Phong Thiên Tiểu Súc, Tốn + Càn = Chấn
74, Thủy Trạch Tiết, Khãm + Đoài = Chấn
63, Sơn Hỏi Bí, Cấn + Ly = Chấn
18, Địa Lôi Phục, Khôn + Chấn = Chấn
92, Thiên Phong Cấu, Càn + Tốn = Chấn
47, Trạch Thủy Khổn, Đoài + Khãm = Chấn
36, Hỏa Sơn Lữ, Ly + Cấn = Chấn
Vận 8 tất cả đều quy tàng thành quẻ Chấn, mà số tiên thiên của Chấn là 8

Vận 9
[64 Tổn—–][19 Thái—-][82 Hằng—]
[73 KýTế—-][—- 9 —-][37 VịTế—]
[28 Ích—–][91 Bỉ——][46 Hàm—-]
19, Địa Thiên Thái, Khôn + Càn = Càn
64, Sơn Trạch Tổn, Cấn + Đoài = Càn
73, Thủy Hỏa Ký Tế, Khãm + Hỏa = Càn
28, Phong Lôi Ích, Tốn + Chấn = Càn
82, Lôi Phong Hằng, Chấn + Tốn = Càn
37, Hỏa Thủy Vị Tế, Ly + Khãm = Càn
46, Trạch Sơn Hàm, Đoài + Cấn = Càn
Vận 9 tất cả đều quy tàng thành quẻ Càn, mà số tiên thiên của Càn là 9

Có phải đây chỉ là sự trùng hợp ngẩu nhiên không hay đã được các tiên hiền tổ sư Phong thủy an bài sắp đặt???
Củng qua cách Quy Tàng chúng ta thấy chức năng của mồi hào âm dương như thế nào khi giao nhau.

Hào Dương: sẻ biến hào kết hợp với nó
Hào Âm: sẻ giữa nguyên hào không biến.

Như quẻ Ly, 101 (1 hào dương, 0 hào âm), thì chúng ta thấy bất cứ quẻ nào kết hợp với quẻ Ly đều bị biến hào thượng và hào hạ.
Như chúng ta muốn có được quẻ Khãm (010) từ quẻ Tốn (110), tức chúng ta cần đổi hào thượng của quẻ Khãm, như vậy tức là ta chỉ cần giao quẻ Khãm (010) với quẻ Cấn (100) theo quy tàng pháp, Khãm + Cấn = Tốn, bỡi vì quẻ Cấn hào thượng là hào dương, và các hào còn lại đều là âm.

Nay các bạn đã hiểu tại sao hai đơn quái giao nhau qua Quy Tàng Pháp lại có kết quả như vậy. Đó là do sự biến đổi của từng hào mà thành.

Ngoài phương pháp tính bằng số tiên thiên thì còn phương pháp biến Hào theo Quy Tàng Pháp, và phương pháp mà các nhà danh sư phong thủy đều cho là ngụy pháp đó là Tiểu Du Niên.

Trong ứng dụng phương pháp Quy Tàng để tính Bán San thì ta phải ghi nhớ
Các quẻ Quy Tàng Quái có Bát San như sau:
Quái Càn là Diên Niên
Quái Đoài là Thiên Y
Quái Ly là Lục Sát
Quái Chấn là Họa Hại
Quái Tốn là Ngũ Quỷ
Quái Khãm là Tuyệt Mạng
Quái Cấn là Sinh Khí
Quái Khôn là Phục Vị

Các bạn củng có thể ứng dụng giao hào để biến quẻ, như các bạn có quẻ Tốn (110) là Ngủ Quỷ, nay muốn biến nó thành quẻ Cấn (100) Sinh Khí, thì ta biết Quẻ Tốn (110) cần biến hào trung để trở thành Cấn (100), như vậy ta chỉ cần giao quẻ Tốn với quẻ Khãm (010), thì ta sẻ có quẻ Cấn (100) Sinh Khí.

Nay nêu lên hai nghi vấn.
1) tại sao khi ta thay thế bát san của 8 cung bằng tám quẻ quy tàng quái tương ứng, chúng ta lại có 8 vận của Huyền Không 64 quái( tức quy tàng quái kết hợp với bản cung của Tiên Thiên bát quá)?
2) tại sao trong mỗi vận, các trùng quái sau khi giao nhau theo quy tàng pháp đều có cùng một quẻ quy tàng với số tiên thiên chính là vận?

NGUYÊN LÝ BÁT TRẠCH – PHẦN 1

0

Nguyên Lý Bát Trạch – Phần 1

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Cửu Tinh Chế Phục.
Sanh khí giáng Ngũ quỷ
Thiên y chế Tuyệt mạng
Diên niên yểm Lục sát
Chế phục an bài đinh.

Rất nhiều sách viết về vấn đề này nhưng chưa ai có thể giải thích được cái nguyên lý tại sao Sanh Khí, Thiên Y, và Diên Niên có thế chế phục được Ngũ quỷ, Tuyệt Mạng và Lục Sát, và cả vấn đề Phục Vị, tuy không có trong bài thơ, nhưng nó có thể chế được Họa Hại hay không?
Cái nguyên lý của Bát San tốt xấu đã được giãi mã, thì nay xin giãi mã tiếp cái vấn đề chế phục cho đầy đủ.

Trước hết chúng ta hãy ôn lại các quy luật Bát San cái đã:

[Đoài 4 ][Càn 9 —][Tốn 2 —]
[Ly 3 –][———][Khãm 7 –]
[Chấn 8 ][Khôn 1(5)][Cấn 6(10)]


Hà Đồ Ngũ Hành:
1, 6 Thủy
2, 7 Hỏa
3, 8 Mộc
4, 9 Kim
5, 10 Thổ

A) Ngũ hành đồng loại hoặc Tương Sinh
Hợp Số Sinh Thành là Sinh Khí
Cùng Số là Phục Vị
Tổng số (bỏ 10) 5 là Thiên Y
Tổng số 10 là Diên Niên

B) Ngũ hành tương khắc
Tổng số 1 & 9 là Họa Hại
Tống số 2 & 8 là Tuyệt Mệnh
Tổng số 3 & 7 là Ngũ Quỷ
Tổng số 4 & 6 là Lục Sát

Giờ thì chúng ta bắt đầu:
Trong bốc dịch lục hào thường ứng dụng đến hai quy tắc của ngủ hành trong luận đoán, đó là Tham Sinh Kị Khắc và Tham Hợp Vong Khắc, hay nói chung là Tham Sinh Tham Hợp Vong Hình Khắc, tức là ngũ hành bản tính thích đi sinh và thích đi hợp hơn là thích đi khắc. Hai nguyên tắc này chính là mấu chốt để giải thích Cửu Tinh Chế Phục!!!
Tham Hợp, gồm có Hợp Sinh Thành (1-6, 2-7, 3-8, 4-9, 5-10), Hợp 5 (1-4, 2-3, 5-10, 6-9, 7-8), và Hợp 10 (1-9, 2-8, 3-7, 4-6). Ta thấy rằng trong hai cái Hợp 5 và Hợp 10 đều là quan hệ tương sinh.

Càn 9

9, 1(5): tương sinh, 9+1 = 10, hợp thật, Diên Niên (Kim 9 sinh Thủy 1, Thổ 5 sinh Kim 9, toàn là tương sinh)
9, 2: tương khắc, 9+2 = 1, Họa Hại (bỏ 10)
9, 3: tương khắc, 9+3 = 2, Tuyệt Mệnh
9,4: sinh thành, 9+4 = 3, Sinh Khí
9,6(10): tương sinh, 6+6 = 5, Thiên Y
9,7: tương khắc, 9+7 = 6, Lục Sát
9,8: tương khắc, 9+8 = 7, Ngũ Quỷ
9,9: đồng loại, Phục Vị

Sinh Khí: 9, 4
Ngũ Quỷ: 9, 8
Ngũ Quỷ Kim 9 đi khắc Mộc 8, Sinh Khí Kim 9 4 hợp sinh thành. Như vậy Kim 9 đi khắc Mộc 8 kếp hợp Sinh Khí thì sẻ Tham Hợp mà vong Khắc, tức Kim 9 sẻ đi hợp với Kim 4 mà không còn khắc Mộc 8 nửa.

Thiên Y: 9, 6(10)
Tuyệt Mạng: 9, 3
Tuyện Mạng Kim 9 đi khắc Mộc 3, nhưng Kim 9 sinh Thủy 6 trong Thiên Y, cho nên dùng Thiên Y chế Tuyệt Mạng gì Kim 9 Tham Sinh và Tham Hợp 5 với Thủy 6 mà vong Khắc.

Diên Niên: 9, 1(5)
Lục Sát: 9, 7
Lục Sát Kim 9 bị Hỏa 7 khắc, trong Diên Niên Kim 9 sinh Thủy 1, như vậy khi ứng dụng Diên Niên để giải tỏa Lục Sát thì Kim 9 sinh Thủy 1, Thủy 1 Khắc Hỏa 7, vì vậy mà Kim 9 được giải vây! Đây là ứng dụng tương Khắc để hóa giải.

Phục Vị: 9, 9
Họa Hại: 9, 2
Họa Hại Kim 9 bị Hỏa 2 Khắc, khi kết hợp với Phục Vị củng không thể nào hóa giải theo hai quy tắc thông thường Tham Sinh Hợp và Tương Khắc. Ở đây, Kim 9 gặp đồng loại củng cố, vì vậy mà khinh thường Hỏa theo quy tắc Tương Vũ, nhưng Kim vần bị Hỏa Khắc.

Khôn 1
1(5), 1: đồng loại, Phục Vị
1(5), 2: tương khắc, 1+2 = 3, Ngũ Quỷ
1(5), 3: tương khăc, 1+3 = 4, Lục Sát (ở đây tuy Thủy 1 sinh Mộc 3, nhưng Mộc 3 lại khắc Thổ 5)
1(5), 4: tương sinh, 1+4 = 5, Thiên Y
1(5), 6(10): sinh thành, Sinh Khí
1(5), 7: tương khắc, 1+7 = 8 Tuyệt Mạng
1(5), 8: tương khắc, 1+8 = 9 Họa Hại (ở đây tuy Thủy 1 sinh Mộc 8, nhưng Mộc 8 khắc Thổ 5)
1(5), 9: tương sinh, 1+9 = 10 Diên Niên

Sinh Khí: 1(5), 6(10)
Ngũ Quỷ: 1(5), 2
Ngũ Quỷ Thủy 1 khắc Hỏa 2, gặp Sinh Khí mà Tham Hợp Sinh Thành nên vong khắc.

Thiên Y: 1(5), 4
Tuyệt Mạng: 1(5), 7
Tuyệt Mạng Thủy 1 khắc Hỏa 7, gặp Thiên Y, Thủy 1 Tham Hợp 5 với Kim 4 mà vong khắc.

Diên Niên: 1(5), 9
Lục Sát: 1(5), 3
Lục Sát Mộc 3 khắc Thổ 5 ký tại Thủy 1, gặp Diên Niên bị Kim 9 khắc Mộc 3 nên Thổ 5 được giải vây vậy.

Phục Vị: 1(5), 1(5)
Họa Hại: 1(5), 8
Họa Hại Mộc 8 khắc Thổ 5, Thổ quá nhiền mà thành Thổ 5 Vũ Mộc 8, nhưng Khắc vẫn không được hóa giải.

Cấn 6
6(10), 1(5): sinh thành, Sinh Khí
6(10), 2: tương khắc, 6+2 = 8, Tuyệt Mạng
6(10), 3: tương khắc, 6+3 = 9, Họa Hại (Mộc 3 khắc Thổ 10)
6(10), 4: tương sinh, 6+4 = 10, Diên Niên
6(10), 6(10): đồng loại, Phục Vị
6(10), 7: tương khắc, 6+7 = 3, Ngũ Quỷ
6(10), 8: tương khắc, 6+8 = 4, Lục Sát
6(10), 9: tương sinh, 6+9 = 5, Thiên Y

Sinh Khí: 6(10), 1(5)
Ngũ Quỷ: 6(10), 7
Ngũ Quỷ Thủy 6 khắc Hỏa 7, gặp Sinh Khí Tham Hợp Sinh Thành mà vong khắc

Thiên Y: 6(10), 9
Tuyệt Mạng: 6(10), 2
Tuyệt Mạng Thủy 6 khắc Hỏa 2, gặp Thiên Y Tham Hợp 5 mà vong khắc.

Diên Niên 6(10), 4
Lục Sát 6(10), 8
Lục Sát Mộc 8 khắc Thổ 10, gặp Diên Niên Kim 4 khắc Mộc 8 giải vây cho Thổ 10.

Phục Vị: 6(10), 6(10)
Họa Hại: 6(10), 3
Họa Hại Mộc 3 khắc Thổ 10, Thổ 10 vũ Mộc 3.

Đoài 4
4, 1(5): tương sinh, 4+1 = 5, Thiên Y
4, 2: tương khắc, 4+2 = 6, Lục Sát
4, 3: tương khắc, 4+3 = 7, Ngũ Quỷ
4, 4: đồng loại, Phục Vị
4, 6(10): tương sinh, 4+6 = 10, Diên Niên
4, 7: tương khắc, 4+7 = 1, Họa Hại
4, 8: tương khăc, 4+8 = 2, Tuyệt Mạng
4, 9: sinh thành, Sinh Khí

Sinh Khí: 4, 9
Ngũ Quỷ: 4, 3
Ngũ Quỷ Kim 4 khắc Mộc 3, gặp Sinh Khí Tham Hợp Sinh Thành mà vong khắc.

Thiên Y: 4, 1
Tuyệt Mạng: 4, 8
Tuyệt Mạng Kim 4 khắc Mộc 8, gặp Thiên Y Tham Sinh Tham Hợp 5 mà vong khắc.

Diên Niên 4, 6(10)
Lục Sát 4, 2
Lục Sát Kim 4 bị Hỏa 2 khắc, gặp Diên Niên bị Thủy 6 khắc Hỏa 2 mà giải vây cho Kim 4 vậy.

Phục Vị 4, 4
Họa Hại 4, 7
Họa Hại Kim 4 bị Hỏa 7 khắc, Kim 4 quá đông thành Kim 4 vũ Hỏa 7, nhưng vẫn bị khắc.

Khãm 7
7, 1(5): tương khắc, 7+1 = 8, Tuyệt Mạng
7, 2: sinh thành, Sinh Khí
7, 3: tương sinh, 7+3 = 10, Diên Niên
7, 4: tương khắc, 7+4 = 1, Họa Hại
7, 6(10): tương khắc, 7+6 = 3, Ngũ Quỷ
7, 7: đồng loại, Phục Vị
7, 8: tương sinh, 7+8 = 5, Thiên Y
7, 9: tương khắc, 7+9 = 6, Lục Sát

Sinh Khí: 7, 2
Ngũ Quỷ: 7, 6(10)
Ngũ Quỷ Hỏa 7 bị Thủy 6 khắc, gặp Sinh Khí vẩn không hóa giải được.

Thiên Y: 7, 8
Tuyệt Mạng: 7, 1(5)
Tuyệt Mạng Hỏa 7 bị Thủy 1 khắc, gặp Thiên Y Thủy 1 Tham Sinh Mộc 8 mà vong khắc.

Diên Niên: 7, 3
Lục Sát: 7, 9
Lục Sát Hỏa 7 khắc Kim 9, gặp Diên Niên Tham Hợp 10 mà vong khắc.

Phục Vị: 7, 7
Họa Hại: 7, 4
Họa Hại Hỏa 7 khắc Kim 4, gặp Phục Vị càng đông mà thành Tương Thừa. Hỏa 7 thừa Kim 4

Ly 3
3, 1(5): tương khắc, 3+1 = 4, Lục Sát
3, 2: tương sinh, 3+2 = 5, Thiên Y
3, 3: đồng loại, Phục Vị
3, 4: tương khắc, 3+4 = 7, Ngũ Quỷ
3, 6(10): tương khắc, 3+6 = 9, Họa Hại
3, 7: tương sinh, 3+7 = 10, Diên Niên
3, 8: sinh thành, Sinh Khí
3, 9: tương khắc, 3+9 = 2, Tuyệt Mạng

Sinh Khí: 3, 8
Ngũ Quỷ: 3, 4
Ngũ Quỷ Mộc 3 bị Kim 4 khắc, gặp Sinh Khí toàn là Mộc mà thành tương vũ, không thể hóa giải được khắc.

Thiên Y: 3, 2
Tuyệt Mạng: 3, 9
Tuyệt Mạng Mộc 3 bị Kim 9 khắc gặp Thiên Y Hỏa 2 khắc Kim 9 mà giải vây cho Mộc 3 vậy.

Diên Niên: 3, 7
Lục Sát: 3, 1(5)
Lục Sát Mộc 3 khắc Thổ 5, gặp Diên Niên Mộc 3 Tham Sinh Tham Hợp 10 mà với Hỏa 7 mà vong khắc.

Phục Vị: 3, 3
Họa Hại: 3, 6(10)
Họa Hại Mộc 3 khắc Thổ 10, gặp Phục vị càng đông thành quan hệ Tương Thừa, tức Mộc 3 Thừa Thôm 10, không hóa giải được khắc.

Chấn 8
8, 1(5): tương khắc, 8+1 = 9, Họa Hại
8, 2: tương sinh, 8+2 = 10, Diên Niên
8, 3: sinh thành, Sinh Khí
8, 4: tương khắc, 8+4 = 2, Tuyệt Mạng
8, 6(10), tương khắc, 8+6 = 4, Lục Sát
8, 7: tương sinh, 8+7 = 5, Thiên Y
8, 8: đồng loại, Phục Vị
8, 9: tương khắc, 8+9 = 7, Ngũ Quỷ

Sinh Khí: 8, 3
Ngũ Quỷ: 8, 9
Ngũ Quỷ Mộc 8 bị Kim 9 khắc, gặp Sinh Khí toàn là Mộc mà thành quan hệ Tương Vũ, Mộc 8 vũ Kim 9, không hóa giải được khắc.

Thiên Y: 8, 7
Tuyệt Mạng: 8, 4
Tuyệt Mạng Mộc 8 bị Kim 4 khắc gặp Thiên Y Hỏa 7 khắc Kim 4 mà giải vây cho Mộc 8.

Diên Niên: 8, 2
Lục Sát: 8, 6(10)
Lục Sát Mộc 8 khắc Thổ 10, gặp Diên Niên Mộc 8 Tham Sinh Tham Hợp 10 với Hỏa 2 và vong khắc.

Phục Vị: 8, 8
Họa Hại: 8, 1(5)
Họa Hại Mộc 8 khắc Thổ 5, gặp Phục Vị càng đông thành Mộc 8 thừa Thổ 5

Tốn 2
2, 1(5): tương khắc, 2+1 = 3, Ngũ Quỷ
2, 2: đồng loại, Phục Vị
2, 3: tương sinh, 2+3 = 5, Thiên Y
2, 4: tương khắc, 2+4 = 6, Lục Sát
2, 6(10), tương khắc, 2+6 = 8, Tuyệt Mạng
2, 7: sinh thành, Sinh Khí
2, 8: tương sinh, 2+8 = 10, Diên Niên
2, 9: tương khắc, 2+9 = 1, Họa Hại

Sinh Khí: 2, 7
Ngũ Quỷ: 2, 1(5)
Ngũ Quỷ Hỏa 2 bị Thủy 1 khắc gặp Sinh Khí càng nhiều Hỏa mà thành Tương Vũ, Hỏa 2 Vũ Thủy 1.
Thiên Y: 2, 3
Tuyệt Mạng: 2, 6(10)
Tuyệt Mạng Hỏa 2 bị Thủy 6 khắc, gặp Thiên Y Thủy 6 Tham Sinh Tham Mộc 3 mà vong khắc.

Diên Niên: 2, 8
Lục Sát: 2, 4
Lục Sát Hỏa 2 khắc Kim 4, gặp Diên Niên Hỏa 2 Tham Hợp 10 với Mộc 8 mà vong khắc.

Phục Vị: 2, 2
Họa Hại: 2, 9
Họa Hại Hỏa 2 khắc Kim 9, gặp Phục Vị càng đông mà thành Tương Thừa, Hỏa 2 thừa Kim 9, không hóa giải được khắc.

Tóm Lại:

1) Sinh Khí giáng Ngũ Quỷ ta có:
Sinh Khí: 9, 4
Ngũ Quỷ: 9, 8
Ngũ Quỷ Kim 9 đi khắc Mộc 8, Sinh Khí Kim 9 4 hợp sinh thành. Như vậy Kim 9 đi khắc Mộc 8 kếp hợp Sinh Khí thì sẻ Tham Hợp mà vong Khắc, tức Kim 9 sẻ đi hợp với Kim 4 mà không còn khắc Mộc 8 nửa.
Sinh Khí: 1(5), 6(10)
Ngũ Quỷ: 1(5), 2
Ngũ Quỷ Thủy 1 khắc Hỏa 2, gặp Sinh Khí mà Tham Hợp Sinh Thành nên vong khắc.
Sinh Khí: 6(10), 1(5)
Ngũ Quỷ: 6(10), 7
Ngũ Quỷ Thủy 6 khắc Hỏa 7, gặp Sinh Khí Tham Hợp Sinh Thành mà vong khắc
Sinh Khí: 4, 9
Ngũ Quỷ: 4, 3
Ngũ Quỷ Kim 4 khắc Mộc 3, gặp Sinh Khí Tham Hợp Sinh Thành mà vong khắc.

Sinh Khí: 7, 2
Ngũ Quỷ: 7, 6(10)
Ngũ Quỷ Hỏa 7 bị Thủy 6 khắc, gặp Sinh Khí Hỏa càng nhiền thành tương vũ, không hóa giải được khắc.
Sinh Khí: 3, 8
Ngũ Quỷ: 3, 4
Ngũ Quỷ Mộc 3 bị Kim 4 khắc, gặp Sinh Khí toàn là Mộc mà thành tương vũ, không thể hóa được khắc.
Sinh Khí: 8, 3
Ngũ Quỷ: 8, 9
Ngũ Quỷ Mộc 8 bị Kim 9 khắc, gặp Sinh Khí toàn là Mộc mà thành quan hệ tương vũ, Mộc 8 vũ Kim 9, không hóa giải được khắc.
Sinh Khí: 2, 7
Ngũ Quỷ: 2, 1(5)
Ngũ Quỷ Hỏa 2 bị Thủy 1 khắc gặp Sinh Khí càng nhiều Hỏa mà thành tương vũ, không hóa giải được khắc.

Tây Tứ Trạch Càn Khôn Cấn Đoài, Sinh Khí hóa giải Ngũ Quỷ qua Tham Hợp Sinh Thành mà vong khắc
Đông Tứ Trạch Khãm Ly Chấn Tốn, Sinh Khí tạo thành quan hệ Tương Vũ, tuy khinh thường cái hành khắc mình, nhưng vẫn không thể hóa giải tiêu tán đi cái khắc.

2) Thiên Y chế Tuyệt Mạng ta có:
Thiên Y: 9, 6(10)
Tuyệt Mạng: 9, 3
Tuyện Mạng Kim 9 đi khắc Mộc 3, nhưng Kim 9 sinh Thủy 6 trong Thiên Y, cho nên dùng Thiên Y chế Tuyệt Mạng gì Kim 9 Tham Sinh và Tham Hợp 5 với Thủy 6 mà vong Khắc.
Thiên Y: 1(5), 4
Tuyệt Mạng: 1(5), 7
Tuyệt Mạng Thủy 1 khắc Hỏa 7, gặp Thiên Y, Thủy 1 Tham Hợp 5 với Kim 4 mà vong khắc.
Thiên Y: 6(10), 9
Tuyệt Mạng: 6(10), 2
Tuyệt Mạng Thủy 6 khắc Hỏa 2, gặp Thiên Y Tham Hợp 5 mà vong khắc.
Thiên Y: 4, 1
Tuyệt Mạng: 4, 8
Tuyệt Mạng Kim 4 khắc Mộc 8, gặp Thiên Y Tham Sinh Tham Hợp 5 mà vong khắc.

Thiên Y: 7, 8
Tuyệt Mạng: 7, 1(5)
Tuyệt Mạng Hỏa 7 bị Thủy 1 khắc, gặp Thiên Y Thủy 1 Tham Sinh Mộc 8 mà vong khắc.
Thiên Y: 3, 2
Tuyệt Mạng: 3, 9
Tuyệt Mạng Mộc 3 bị Kim 9 khắc gặp Thiên Y Hỏa 2 khắc Kim 9 mà giải vây cho Mộc 3 vậy.
Thiên Y: 8, 7
Tuyệt Mạng: 8, 4
Tuyệt Mạng Mộc 8 bị Kim 4 khắc gặp Thiên Y Hỏa 7 khắc Kim 4 mà giải vây cho Mộc 8.
Thiên Y: 2, 3
Tuyệt Mạng: 2, 6(10)
Tuyệt Mạng Hỏa 2 bị Thủy 6 khắc, gặp Thiên Y Thủy 6 Tham Sinh Tham Mộc 3 mà vong khắc.

Tây Tứ Trạch Càn Khôn Cấn Đoài, Thiên Y hóa giải Tuyệt Mạng qua Tham Sinh và Tham Hợp 5 (Càn 9, Đoài 4) va Tham Hợp 5 (Khôn 1, Cấn 6).
Đông Tứ Trạch Khãm Ly Chấn Tốn, Thiên Y hóa giải Tuyệt Mạng qua Tham Sinh (Khãm 7, Tốn 2) và Tương Khắc (Ly 3, Chấn 8)

Bát trạch có cách phối 9 tinh như sau:
Sinh khí-Tham lang
Ngũ quỷ-Liêm trinh
Diên niên-Vũ khúc
Lục sát-Văn khúc
Họa hại-Lộc tồn
Thiên y-Cự môn
Phục vị-Tả phụ+Hữu bật(Phụ Bật)

Bát Trạch an 8 cung theo cách biến hào là ở tầng sơ cấp, lấy Càn trạch làm lệ như sau:
Càn nhất biến thượng hào thành Đoài-Sinh khí-Tham lang
Đoài biến trung hào thành Chấn-Ngũ quỷ-Liêm trinh
Chấn biến hạ hào thành Khôn-Diên niên-Vũ khúc
Khôn biến trung hào thành Khảm-Lục sát-Văn khúc
Khảm biến thượng hào thành Tốn-Họa hại-Lộc tồn
Tốn biến trung hào thành Cấn-Thiên y-Cự môn
Cấn biến hạ hào thành Ly-Tuyệt mệnh-Phá quân
Ly biến trung hào thành Càn-Phục vị-Phụ Bật

Tiếp tục lấy 8 quái an 24 sơn(muốn gọi sơ cấp hay cao cấp gì đó cũng được):
Đoài nạp Tỵ Dậu Sửu Đinh-Sinh khí-Tham lang,
Chấn nạp Canh Hợi Mão Mùi-Ngũ quỷ-Liêm trinh
Khôn nạp Ất Khôn-Diên niên-Vũ khúc
Khảm nạp Thân Tí Thìn Quý-Lục sát-Văn khúc
Tốn nạp Tân Tốn-Họa hại-Lộc tồn
Cấn nạp Bính Cấn-Thiên y-Cự môn
Ly nạp Nhâm Dần Ngọ Tuất-Tuyệt mệnh-Phá quân
Càn nạp Giáp Càn-Phục vị-Phụ Bật

An 24 sơn:
Nhâm-Tuyệt, Tí-Lục, Quý-Lục, Sửu-Tham, Cấn-Cự, Dần-Tuyệt, Giáp-Phụ bật, Mão-Liêm, Ất-Vũ, Thìn-Lục, Tốn-Lộc, Tỵ-Tham, Bính-Thiên, Ngọ-Tuyệt, Đinh-Tham, Mùi-Ngũ, Khôn-Vũ, Thân-Lục, Canh-Ngũ, Dậu-Tham, Tân-Họa, Tuất-Tuyệt, Càn-Phụ bật, Hợi-Ngũ

Như tọa Càn hướng Tốn, Tốn vốn là Họa hại nhưng chia ra 3 sơn thì Thìn-Lục, Tốn-Lộc, Tỵ-Tham. Mở cửa chính tại Tỵ (bên phải) thừa khí Tham lang chế họa hại hướng(khỏi xoay bếp).
Ở mức cao hơn thì mở thêm 2 cái cửa hoặc động khí tại 2 phương Dậu và Sửu, Tam hợp Tỵ-Dậu-Sửu, 3 cái Tham lang cùng hội, không gì cát tường hơn.
Đỉnh cao nhất của Bát trạch là Tam quái khí, chính là cái này.
Diên Niên: 9, 1(5)
Lục Sát: 9, 7
Lục Sát Kim 9 bị Hỏa 7 khắc, trong Diên Niên Kim 9 sinh Thủy 1, như vậy khi ứng dụng Diên Niên để giải tỏa Lục Sát thì Kim 9 sinh Thủy 1, Thủy 1 Khắc Hỏa 7, vì vậy mà Kim 9 được giải vây! Đây là ứng dụng tương Khắc để hóa giải.
Diên Niên: 1(5), 9
Lục Sát: 1(5), 3
Lục Sát Mộc 3 khắc Thổ 5 ký tại Thủy 1, gặp Diên Niên bị Kim 9 khắc Mộc 3 nên Thổ 5 được giải vây vậy.
Diên Niên 6(10), 4
Lục Sát 6(10), 8
Lục Sát Mộc 8 khắc Thổ 10, gặp Diên Niên Kim 4 khắc Mộc 8 giải vây cho Thổ 10.
Diên Niên 4, 6(10)
Lục Sát 4, 2
Lục Sát Kim 4 bị Hỏa 2 khắc, gặp Diên Niên bị Thủy 6 khắc Hỏa 2 mà giải vây cho Kim 4 vậy.

Diên Niên: 7, 3
Lục Sát: 7, 9
Lục Sát Hỏa 7 khắc Kim 9, gặp Diên Niên Tham Hợp 10 mà vong khắc.
Diên Niên: 3, 7
Lục Sát: 3, 1(5)
Lục Sát Mộc 3 khắc Thổ 5, gặp Diên Niên Mộc 3 Tham Sinh Tham Hợp 10 mà với Hỏa 7 mà vong khắc.
Diên Niên: 8, 2
Lục Sát: 8, 6(10)
Lục Sát Mộc 8 khắc Thổ 10, gặp Diên Niên Mộc 8 Tham Sinh Tham Hợp 10 với Hỏa 2 và vong khắc.
Diên Niên: 2, 8
Lục Sát: 2, 4
Lục Sát Hỏa 2 khắc Kim 4, gặp Diên Niên Hỏa 2 Tham Hợp 10 với Mộc 8 mà vong khắc.

Tây Tứ Trạch Càn Khôn Cấn Đoài, Diên Niên hóa giải Lục Sát qua quan hệ Tương Khắc
Đông Tứ Trạch Khãm Ly Chấn Tốn, Diên Niên hóa giải Lục Sát qua Tham Sinh Tham Hợp 10 (Ly 3, Chấn 8) và Tham Hợp 10 (Khãm 7, Tốn 2)

4) Phục Vị chế Họa Hại

Phục Vị: 9, 9
Họa Hại: 9, 2
Họa Hại Kim 9 bị Hỏa 2 Khắc, khi kết hợp với Phục Vị củng không thể nào hóa giải theo hai quy tắc thông thường Tham Sinh Hợp và Tương Khắc. Ở đây, Kim 9 gặp đồng loại củng cố, vì vậy mà khinh thường Hỏa theo quy tắc Tương Vũ, nhưng Kim vần bị Hỏa Khắc.
Phục Vị: 1(5), 1(5)
Họa Hại: 1(5), 8
Họa Hại Mộc 8 khắc Thổ 5, Thổ quá nhiền mà thành Thổ 5 Vũ Mộc 8, nhưng Khắc vẫn không được hóa giải.
Phục Vị: 6(10), 6(10)
Họa Hại: 6(10), 3
Họa Hại Mộc 3 khắc Thổ 10, Thổ 10 vũ Mộc 3.
Phục Vị 4, 4
Họa Hại 4, 7
Họa Hại Kim 4 bị Hỏa 7 khắc, Kim 4 quá đông thành Kim 4 vũ Hỏa 7, nhưng vẫn bị khắc.

Phục Vị: 7, 7
Họa Hại: 7, 4
Họa Hại Hỏa 7 khắc Kim 4, gặp Phục Vị càng đông mà thành Tương Thừa. Hỏa 7 thừa Kim 4
Phục Vị: 3, 3
Họa Hại: 3, 6(10)
Họa Hại Mộc 3 khắc Thổ 10, gặp Phục vị càng đông thành quan hệ Tương Thừa, tức Mộc 3 Thừa Thôm 10, không hóa giải được khắc.
Phục Vị: 8, 8
Họa Hại: 8, 1(5)
Họa Hại Mộc 8 khắc Thổ 5, gặp Phục Vị càng đông thành Mộc 8 thừa Thổ 5
Phục Vị: 2, 2
Họa Hại: 2, 9
Họa Hại Hỏa 2 khắc Kim 9, gặp Phục Vị càng đông mà thành Tương Thừa, Hỏa 2 thừa Kim 9, không hóa giải được khắc.

Tây Tứ Trạch Càn Khôn Cấn Đoài, Phục Vị đều tạo thành quan hệ Tương Vũ, không thể hóa giải Họa Hại.
Đông Tứ Trạch Khãm Ly Chấn Tốn, Phục Vị đều tạo thành quan hệ Tương Thừa, không thể hóa giải Họa Hại.

Phương pháp chế phục tốt nhất là ứng dụng được Tham Sinh Kị Khắc, sau đó đến Tham Hợp Vong Khắc, và sau cùng là Tương Khắc. Tương Thừa và Tương Vũ là hai quan hệ bất bình thường thuộc loại cực điếm, Mạnh quá hoặc Yếu quá. Tương Thừa thừa quá mạnh mà hiếp yếu. Tương Vũ thừa quá mạnh mà phạm thượng khinh thường bề trên.

Trong trường hợp Ngũ Quỷ của Đông Tứ Trạch Khãm 7, Ly 3, Chấn 8, Tốn 2, vì Sinh Khí sẻ tạo ra quan hệ Tương Thừa, tốt nhất là dùng Diên Niên để hóa giải cho Khãm 7 và Tốn 2, Thủy 1,6 Tham Sinh Mộc 3, 8 mà và vong Khắc Hỏa 2, 7.
Sinh Khí: 7, 2
Ngũ Quỷ: 7, 6(10)
Diên Niên: 7, 3

Sinh Khí: 2, 7
Ngũ Quỷ: 2, 1(5)
Diên Niên: 2, 8

Ly 3 và Chấn 8 thì dùng quan hệ Tương Khắc, Hỏa Khắc Kim mà giải vây cho Mộc 3, 8 vậy.
Sinh Khí: 3, 8
Ngũ Quỷ: 3, 4
Diên Niên: 3, 7

Sinh Khí: 8, 3
Ngũ Quỷ: 8, 9
Diên Niên: 8, 2

Bạn nào liểu lỉnh hơn thì có thể thử Độc Trị Độc dùng Họa Hại để Kim 4, 9 đi Tham Sinh và Tham Hợp 10 với Thủy 1, 6 mà bỏ khắc Mộc 3, 8.
Sinh Khí: 3, 8
Ngũ Quỷ: 3, 4
Họa Hại: 3, 6(10)

Sinh Khí: 8, 3
Ngũ Quỷ: 8, 9
Họa Hại: 8, 1(5)

Củng qua sử phân tích, chúng ta thấy cái lý do mà Phục Vị chế Họa Hại không được liệt kê trong quyết Cửu Tinh Chế Phục, bởi vì trên nguyên lý Phục Vị không thể nào hóa giải Họa Hại, nó chỉ dùng quan hệ Tương Thừa Tương Vũ để lấn áp, nhưng khắc vẫn còn là khắc!

Bát trạch có cách phối 9 tinh như sau:
Sinh khí-Tham lang
Ngũ quỷ-Liêm trinh
Diên niên-Vũ khúc
Lục sát-Văn khúc
Họa hại-Lộc tồn
Thiên y-Cự môn
Phục vị-Tả phụ+Hữu bật(Phụ Bật)

Bát Trạch an 8 cung theo cách biến hào là ở tầng sơ cấp, lấy Càn trạch làm lệ như sau:
Càn nhất biến thượng hào thành Đoài-Sinh khí-Tham lang
Đoài biến trung hào thành Chấn-Ngũ quỷ-Liêm trinh
Chấn biến hạ hào thành Khôn-Diên niên-Vũ khúc
Khôn biến trung hào thành Khảm-Lục sát-Văn khúc
Khảm biến thượng hào thành Tốn-Họa hại-Lộc tồn
Tốn biến trung hào thành Cấn-Thiên y-Cự môn
Cấn biến hạ hào thành Ly-Tuyệt mệnh-Phá quân
Ly biến trung hào thành Càn-Phục vị-Phụ Bật

Tiếp tục lấy 8 quái an 24 sơn(muốn gọi sơ cấp hay cao cấp gì đó cũng được):
Đoài nạp Tỵ Dậu Sửu Đinh-Sinh khí-Tham lang,
Chấn nạp Canh Hợi Mão Mùi-Ngũ quỷ-Liêm trinh
Khôn nạp Ất Khôn-Diên niên-Vũ khúc
Khảm nạp Thân Tí Thìn Quý-Lục sát-Văn khúc
Tốn nạp Tân Tốn-Họa hại-Lộc tồn
Cấn nạp Bính Cấn-Thiên y-Cự môn
Ly nạp Nhâm Dần Ngọ Tuất-Tuyệt mệnh-Phá quân
Càn nạp Giáp Càn-Phục vị-Phụ Bật

An 24 sơn:
Nhâm-Tuyệt, Tí-Lục, Quý-Lục, Sửu-Tham, Cấn-Cự, Dần-Tuyệt, Giáp-Phụ bật, Mão-Liêm, Ất-Vũ, Thìn-Lục, Tốn-Lộc, Tỵ-Tham, Bính-Thiên, Ngọ-Tuyệt, Đinh-Tham, Mùi-Ngũ, Khôn-Vũ, Thân-Lục, Canh-Ngũ, Dậu-Tham, Tân-Họa, Tuất-Tuyệt, Càn-Phụ bật, Hợi-Ngũ

Như tọa Càn hướng Tốn, Tốn vốn là Họa hại nhưng chia ra 3 sơn thì Thìn-Lục, Tốn-Lộc, Tỵ-Tham. Mở cửa chính tại Tỵ (bên phải) thừa khí Tham lang chế họa hại hướng(khỏi xoay bếp).
Ở mức cao hơn thì mở thêm 2 cái cửa hoặc động khí tại 2 phương Dậu và Sửu, Tam hợp Tỵ-Dậu-Sửu, 3 cái Tham lang cùng hội, không gì cát tường hơn.
Đỉnh cao nhất của Bát trạch là Tam quái khí, chính là cái này.

Ngũ Hành: phản sinh, phản khắc, tương thừa, tương vũ

0

Ngũ Hành: phản sinh, phản khắc, tương thừa, tương vũ

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

1. Ngũ hành phản sinh:

Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

– Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.
– Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.
– Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.
– Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.
– Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.

2. Ngũ hành phản khắc

Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:

– Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.
– Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.
– Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.
– Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.
– Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.

Cho nên trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết hết được những điều này thì khi ứng dụng vào Huyền không phi tinh mới đạt đến mức độ linh hoạt và tinh vi, chính xác hơn. Chẵng hạn như một ngôi nhà nơi phía ĐÔNG có các vận-sơn-hướng tinh 3-3-7. Nếu theo thông thường thì thấy 7 thuộc hành Kim khắc 3 thuộc hành Mộc, nên nếu nhà này có cửa ra vào tại nơi đó thì đoán là nhà sẽ có người bị gãy tay, chân vì Kim khắc Mộc. Nhưng nếu nhìn kỹ thì thấy nơi đó có tới hai sao hành Mộc. Lại thêm phía ĐÔNG cũng hành Mộc. Cho nên Mộc nơi này vượng, một sao Kim thế yếu không thể khắc được, mà còn bị phản khắc lại. Vì thế nhà này không có người bị gãy tay chân, mà chỉ có bị bệnh yếu phổi hay đau phổi mà thôi.

3. Tương thừa

Là quan hệ tương khắc không bình thường : Mạnh quá lấn yếu.

– Một hành nào đó, nếu quá mạnh sẽ khắc hành bị nó khắc mạnh hơn. Thí dụ : Bình thường, Can Mộc khắc Tỳ Thổ, vì giận dữ, làm Mộc gia tăng nhiều hơn sẽ khắc thổ nhiều hơn bình thường gây bụng đau, bao tử loét… Khi điều chỉnh, phải điều chỉnh ở Can Mộc.

– Ngược lại, nếu nó quá yếu sẽ bị khắc chế mạnh hơn bởi hành khắc được nó.

Thí dụ: Trong chứng Lao Phổi, người bệnh hay sốt về chiều, phổi bệnh do Phế Kim suy yếu, theo Ngũ hành, Hỏa khắc Kim, nay Kim suy yếu, Hỏa nhân cơ hội Kim suy, khắc mạnh hơn gây sốt kéo dài, nhất là từ trưa đến chiều tối (là giờ của Hỏa vượng, Kim suy). Khi điều trị, chủ yếu phải điều trị ở Phế Kim chứ không phải ở Tâm Hỏa, cho dù có dấu hiệu của Tâm hỏa.

4. Tương vũ

Đây cũng là 1 quan hệ tương khắc không bình thường, yếu chống lại mạnh.

– Một hành nào đó, nếu mạnh quá, sẽ ức chế ngược lại hành khắc được nó.

Thí dụ: Bình thường thì Thủy khắc Hỏa, trong trường hợp bị trúng nắng, sức nóng (nhiệt) bên ngoài làm cho Hỏa khí bị kéo theo, mạnh hơn, bùng lên, khắc ngược lại Thủy làm cho Thủy suy, gây đổ mồ hôi, sợ lạnh… Khi điều trị, phải điều chỉnh ở Hỏa chứ không phải ở Thủy.

– Ngược lại, nếu nó quá yếu, sẽ bị hành mà nó khắc trở nên khắc ngược lại nó.

Thí dụ: Trong trường hợp Trụy Mạch, Hỏa suy kém gây lạnh người, huyết áp thấp, Kim nhân cơ hội Hỏa suy, bùng lên khắc ngược trở lại Hỏa, làm cho thở nhanh hơn, tim đập chậm hơn, có khi gây ngưng đập.

QUY LUẬT TƯƠNG THỪA – TƯƠNG VŨ TRONG NGŨ HÀNH
Liên quan tới ngũ hành, các quy luật về tương sinh – tương khắc, quy luật khắc chế hóa và quy luật tương thừa – tương vũ cũng được đề cập và nhắc đến. Nói một cách nôm na, quan hệ tương thừa – tương vũ liên quan đến chủ yếu đến quan hệ tương khắc, khi khắc quá mạnh (tương thừa) và khắc quá yếu (tương khắc).
* Tương thừa (Thừa: thừa thế lấn áp): Trong điều kiện bất thường, Hành này khắc hành kia quá mạnh, khi đó mối quan hệ Tương khắc biến thành quan hệ Tương thừa. Chẳng hạn: bình thường Thủy khắc Hỏa, nếu có một lý do nào đó mà Thủy tăng khắc Hỏa, lúc đó gọi là Thủy thừa Hỏa.
* Tương vũ (Vũ: hàm ý khinh hờn): Nếu Hành này không khắc được Hành kia thì quan hệ Tương khắc trở thành quan hệ Tương vũ. Chẳng hạn: bình thường Thủy khắc Hỏa, nếu vì một lý do nào đó làm Thủy giảm khắc Hoả (nói cách khác: Hỏa “khinh hờn” Thủy) thì lúc đó gọi là Hỏa vũ Thủy.

ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH HÀ ĐỒ LẠC THƯ

0

ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH HÀ ĐỒ LẠC THƯ

DỊCH KINH

Phỏng theo Chu Dịch của cụ Phan Bội Châu thì KINH DỊCH được làm ra do bốn ngài Phục Hy, Văn Vương, Chu Công, và Khổng Tử. Ngài Phục Hy vạch ra tám quẻ (đơn), và mỗi quẻ chồng thêm một (quẻ), tám lần thành ra 64 quẻ (kép); Ngài Văn Vương làm soán từ vào dưới 64 quẻ; đến con Ngài là Thánh Chu Công, lại làm Hào-từ đặt vào dưới 384 hào; Đức Khổng Tử lại thể-ý tùy thời của ba Thánh trước mà làm thêm bản Thập Dực. Dực nghĩa là cánh của con chim, vì Khổng Tử cho rằng sách của ba vị Thánh trước đã đủ hình con chim rồi, bây giờ thêm lông cánh nữa là hoàn toàn.
Nếu ai đã từng học qua Dịch đều biết rằng mấy ngàn năm qua, đã có không biết bao nhiêu học giả tranh luận sinh tử về việc ai sáng lập ra Dịch Kinh. Vô hình chung, hình như, họ đã đặt trọng tâm sai chỗ! Trên thực tế, ai làm ra cũng chẳng quan trọng lắm, mà chúng ta học được gì nơi Dịch Kinh mới thật sự là quan trọng!
A. Dịch là gì?
– Dịch là Bất Dịch, Giao Dịch, và Biến Dịch.
Bất Dịch có nghĩa là không thay đổi. Ví như ta là người con trai (Dương) hay con gái (Âm) Việt Nam thì dù ta có thay tên Mỹ, đổi họ Mỹ, và đang ở Mỹ cũng vẫn là người con trai (Dương) hoặc con gái (Âm) Việt Nam (cái gốc).
Giao Dịch là hòa hợp, trao đổi cho nhau. Bất Dịch là nguyên thể (Thể); Giao Dịch là ứng dụng (Dụng). Ví như ta là người Việt Nam ở Mỹ và lấy một cô đầm (Âm) hay một anh Mỹ (Dương) rồi đẻ con, đó là Giao Dịch.
Biến Dịch là biến hóa, thay đổi. Cũng như ta là người Việt Nam (Bất Dịch) lấy vợ (Giao Dịch) Mỹ thì hiển nhiên con ta sanh ra (Biến Dịch) phải là Việt Nam lai Mỹ. Không thể nào là người Việt chánh gốc được. Đó là Biến Dịch.
Ví dụ: nguyên thủy của một người con trai (Dương) hoặc một người con gái (Âm) là bất-dịch. Nhưng khi giao-dịch sinh ra trai hay gái, ấy là do giao-dịch mà thành biến-dịch. Khi đã biến-dịch rồi thì bản thể nguyên thủy của trai vẫn là trai và gái vẫn là gái. Đó là do biến-dịch mà hoàn lại bất-dịch vậy.
Cái lý mầu nhiệm của Dịch là tùy thời, tùy lúc, và tùy phương tiện mà hòa hợp, sử dụng nên người nào câu nệ ở từ-ngữ, ý niệm, tư tưởng hoặc thí dụ, mà trụ chấp vào đó thì không thể nào hiểu sâu xa được. Đó chỉ là những phương tiện, “ví như chiếc thuyền đưa ta qua bên kia sông, khi lên bờ rồi không thể mang chiếc thuyền ấy theo được” (Kinh Kim Cang). Hoặc “nhân ngón tay mà nhìn mặt trăng vậy, đừng nhìn ngón tay mà quên mất cái ánh sáng huyền diệu của ánh trăng” (Kinh Viên Giác).
B. Muốn học Dịch thì phải biết chữ Thời.
Bởi thế, Thầy Thiệu Khang Tiết mới nói rằng: “Chu-Dịch nhất bộ, khả nhất ngôn dĩ tế chi, viết Thì”. Toàn bộ Dịch chỉ một chữ Thì mà bao trùm được hết! Lúc cần phải dừng lại thì dừng lại, lúc cần phải hành động thì hành động; động tịnh mà đúng lúc đúng thời là “kỳ đạo quang minh”. Chính bởi vì thời có biến-dịch, nên Dịch lý mới biến-dịch.
Như ta thấy thời gian trong vũ trụ từ một giờ đến một ngày, một tháng, một năm, hay một đời người, thay đổi biến hóa không ngừng. Hết ngày tới đêm, hết đêm tới ngày cứ luân chuyển từng giờ, từng ngày, từng tháng, tạo thành Xuân, Hạ, Thu, Đông. Hết năm này qua năm khác, bốn mùa cứ biến-dịch rồi hoàn lại bất dịch. Vậy nên đêm thì ngủ, ngày thì thức và làm việc; mùa Hạ thì dùng máy lạnh, mùa Đông thì dùng máy sưởi. Đây chỉ là những điển hình của lẽ tự nhiên, nhưng nếu suy rộng ra ta có thể nhân đó mà tu thân, sửa mình, tề gia, hoặc giáo dục con cái một cách hữu hiệu hơn. Dù là thiên nhiên vẫn nằm trong Dịch lý “sự cùng tắc biến”, nghĩa là hết ngày phải tới đêm và hết đêm phải tới ngày. Ngày và đêm là hai thời gian và không gian trái nghịch nhau (một Âm, một Dương), tuy hai mà một không thể tách rời nhau, tức là không thể nào ngày hoài mà chẳng đêm hoặc ngược lại. Đây là điểm tối quan trọng, người nghiên cứu Tử Vi không thể không chú ý.
C. Dịch học là Dịch số:
Trong Dịch học quan trọng nhất là 4 bản Hà Đồ, Lạc Thư, Tiên Thiên, và Hậu Thiên Bát Quái. Hà Đồ và Tiên Thiên Bát Quái thì nói về vòng Tiên Thiên thuộc về khí (Thể), tức là nói về đức Càn (trời) lúc còn là bầu không khí (chưa biến dịch). Tất cả vạn vật đều bắt đầu do trời. Còn Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái thì nói về vòng Hậu Thiên thuộc về hình (Dụng), tức là nói về đức Khôn (đất). Tất cả vạn vật đều sinh sôi nẩy nở từ đó. Ấy là lúc nhân lọai và vạn vật đã thành hình.

I. HÀ ĐỒ

Hà Đồ có khác gì là một bức hình với tổng số 55 khoen đen, trắng. Ấy vậy mà các bậc Thánh nhân có thể bày thành số Cơ, Ngẫu, Âm, Dương. Cơ là số lẻ (1,3,5,7,9), thuộc về Dương số (khoen trắng). Ngẫu là số chẵn (2,4,6,8,10), thuộc về Âm số (khoen đen). Mấu chốt của Dịch chẳng gì khác hơn là Âm-Dương! Hệ Từ Truyện nói rằng: “Dịch có Thái-Cực, Thái Cực sinh Lưỡng-Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ-Tượng”. Lưỡng-Nghi là Âm-Dương, mà Tứ-Tượng cũng chỉ là Âm Dương mà thôi.
Nguyên trước khi có trái đất, vũ trụ được bao trùm bởi màn hư không, giữa không gian ấy tức là (Thái-Cực) thiên, mà ta gọi là trời, và ở trong không khí (Thái-Cực) ấy hàm súc hai khí Âm và Dương gọi là nhất-âm, nhất-dương. Hai khí Âm Dương kết hợp với nhau ngưng tụ tạo thành trái đất (địa), mà ta gọi là đất. Khi đã có trời đất rồi thì liền phát sinh Thủy, Hỏa, Mộc, Kim (Tứ-Tượng) hay còn gọi là Thái Âm, Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu-Âm. Nên đã đọc Dịch thì phải nhớ câu: Thái-Cực sinh Lưỡng-Nghi, Lưỡng-Nghi sinh Tứ-Tượng, Tứ-Tượng sinh Bát-Quái.
Nhìn vào Hà Đồ ta thấy có bốn hướng chính là: Đông (Mộc), Tây (Kim), Nam (Hỏa), Bắc (Thủy), còn ở giửa là Trung (Thổ).
1. Nhìn phía trong của Hà Đồ, ta thấy phương Bắc có một khoen trắng (Dương) bị bao bọc bởi sáu khoen đen (Âm) bên ngoài (nhất lục Thủy). Như ngầm báo cho ta biết lúc mà Âm cực thịnh thì đã có Dương ẩn tàng bên trong. (Nên chi người tri thức gặp vận bĩ vẫn không buồn mà biết ẩn nhẩn để chờ thời)!
2. Cổ nhân cho rằng: nguyên lúc đầu trong trời đất có chất Thủy trước nhất, nên lấy số (1) làm số thiên sinh Thủy và số (6) thành thủy. Sau khi có Thủy rồi, đồng thời bao nhiêu nhiệt chất ở trong địa cầu cũng đều phát hiện. Nên phương Nam có hai khoen đen (Âm) bị bao bọc bởi bảy khoen trắng (Dương) bên ngoài (nhị thất Hỏa), như ngầm báo khi Dương cực thịnh thì Âm đã ẩn tàng bên trong. (Chính vì vậy, mà người tri thức lo phòng họa đang khi cực thịnh; còn người ngu si thì lại mừng, quên lo khi cực thịnh).
3. Đã có Thủy và Hỏa thì đồng thời Mộc là cây cỏ cũng sinh sôi nảy nở, nên phía Đông có ba khoen trắng bị bao bọc bởi tám khoen đen bên ngoài (tam bát Mộc). Cho thấy khí Dương đang lấn áp khí Âm (thuộc về mặt trời ban mai, mọc hướng Đông). Dương ở bên trong làm chủ, nên tinh thần làm chủ vật chất!
4. Đồng lúc ấy, bao nhiêu khoáng chất ở trong địa cầu cũng nảy nở ra nên phía Tây có bốn khoen đen bị bao bọc bởi chín khoen trắng bên ngoài (tứ cửu kim). Cho ta thấy khí Âm đang lấn áp khí Dương (thuộc về hoàng hôn, sụp tối, mặt trời lặng nhường lại cho mặt trăng)1. Âm ở bên trong làm chủ, nên vật chất làm chủ tinh thần!
5. Như trên đã nói: số 1,3,5,7,9 là số Cơ, thuộc về Dương gọi là Thiên-số. Số 2,4,6,8 là số Ngẫu, thuộc về Âm gọi là Địa-số. Ở trung tâm Hà Đồ ta thấy có số 5 (năm khoen trắng là thiên số Ngũ) Dương. Ở phía Nam có năm khoen đen (Âm), ở phía Bắc có năm khoen đen (Âm), nếu ta cộng 2 số phương Nam và phương Bắc ấy lại ta có Địa-số 10 (thập). Thiên-số Ngũ (5) sinh Thổ, Địa-số Thập thành Thổ, 2 số ấy hợp lại với nhau mà thành Thổ. Ngũ Thập Thổ sở dĩ đặt ở giữa đồ là vì, hai số ấy là trung tâm điểm của công dụng Tạo-hóa. Như ta thấy tất cả Thủy, Hỏa, Mộc, Kim gì cũng đều từ đất mà phát sinh. Vậy nên số 5 (Thổ) phải được phối hợp với bốn số 1,2,3,4 mới thành được Thủy, Hỏa, Mộc, Kim.
Thí Dụ: số 1 là số sinh Thủy, cộng với 5 (Thổ) thành 6, nên 6 là số thành Thủy.
Thế nên mới nói:
Số 1 sinh Thủy, số 6 thành Thủy
Số 2 sinh Hỏa, số 7 thành Hỏa
Số 3 sinh Mộc, số 8 thành Mộc
Số 4 sinh Kim, số 9 thành Kim
Số 5 sinh Thổ, số 10 thành Thổ
Từ đó chúng ta cũng biết được số 1,2,3,4,5 là số Sinh, còn số 6,7,8,9 và 10 là số Thành. Số 1,3,5 là số Dương sinh, và 2, 4 là số Âm Sinh; còn số 6,8,10 là số Âm Thành, và 7, 9 là số Dương thành. Để kiểm định lại, ta thấy hễ số Sinh là Dương thì số Thành là Âm, mà số sinh là Âm thì số thành phải là Dương. Suy ra, ta có một nhóm số từ một đến mười (Thái Cực). Rồi chia làm hai ra (Lưỡng Nghi) thành nhóm số Sinh và nhóm số Thành, và lại chia làm bốn ra (Tứ Tượng) thành số Dương Sinh, Âm Sinh, Dương Thành, và Âm Thành. Tựu trung vẫn là thuyết Âm Dương! Như nhóm Thái Cực từ 1 đến 10 chỉ là sự tập hợp của những số Âm và số Dương, rồi đến Lưỡng Nghi cũng là Âm với Dương, và Tứ Tượng cũng vẫn là Âm với Dương mà thôi (1).
____________________
1. “Chu Dịch Tập Giải” giải thích về các con số như sau: “Trời cao bắt đầu từ ba (3) trở đi đếm tiếp 5,7,9, không lấy 1. Đất rộng bắt đầu từ hai (2) nhưng đếm ngược lại từ 10, 8, 6, không lấy 4”, chính vì vậy mà Hào Dương thì gọi là Hào Cửu, và Hào Âm thì gọi là Hào Lục.
Tóm lại, nguyên lý của tạo hóa, vạn vật hóa sinh, đều do Âm-Dương hòa hợp mà ra. Âm-Dương được gọi là hai cực, hai khí, hoặc hai trạng thái, …v.v., trái nghịch nhau nhưng hỗ tương cho nhau để sinh tồn.
Như chúng ta biết, mặt trời mọc phương Đông lặn phương Tây. Phương Đông Dương thịnh (nên trọng nam khinh nữ), bởi vậy không gian thường sáng. Phương Tây Âm thịnh (do đó phái nữ được trọng) nên không gian thường tối, chỉ có mặt trăng không đủ sức làm cho không gian sáng sủa, ngoại trừ những đêm trăng rằm (nhưng hễ cái gì hiếm thì quý!). Theo luật bù trừ: mặt trời sáng sủa, tỏa rộng, nhưng nóng cháy; còn mặt trăng thì ít khi tròn nhưng lại trong sáng, mát dịu, và là biểu tượng của thơ văn. Về học vấn thì người phương Tây giỏi về chuyên ngành, người phương Đông thì giỏi về tổng quát.
Dương tượng trưng cho khí (tinh thần), còn Âm tượng trưng cho hình (vật thể). Cũng chính bởi lý đó, mà ta có thể biết được người Đông-phương thì sống thiên về tinh thần (khí-Thể), còn người Tây-phương thì quan trọng vật chất (vật thể hay hình-Dụng). Hiện nay, người Việt ở những nước Tây-Âu có mức ly dị khá cao so với người Việt trong nước, với những lý do thật đơn giản như: chồng không cung cấp đủ tiền bạc, hoặc sinh lý… Những vấn đề nầy sẽ lan truyền sang Việt Nam trong một thời gian không lâu nữa, khi mà đời sống vật chất ở Việt Nam đòi hỏi ngang bằng Tây-Âu. Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng những người ham mê vật chất (nhiều lòng tham và dục vọng) thì thân tâm thường lu mờ, thiếu lòng nhân và tâm từ thiện. Họ là những người sống trong bóng đêm! Trong Tử Vi họ là những người ôm vòng: Dục, Suy, Tuyệt, hoặc Đào Hoa-Thiên Không, hay Tham-Vũ.
Vì tượng cho Mộc (cây cỏ) nên Đông phương chủ về nông nghiệp, còn Tây phương tượng là Kim nên chủ về công nghiệp và cơ khí. Như ta thấy người Tây phương (Kim tượng cứng cỏi) quá dũng mãnh nên hay sát phạt. Nên từ chiến tranh bộ-lạc, chiến tranh lập quốc, xâm chiếm lục-địa, và đến Thế-chiến, Tây phương đã đổ không biết bao nhiêu xương máu. Trong khi sau Thành Cát Tư Hãn mấy trăm năm mới thấy Nhật khởi binh khuấy động thế giới trong đệ nhị Thế-Chiến.
Đông tượng trưng cho Mộc nên thể tính (tạng người) mềm mại (thường nhỏ con), còn Tây phương tượng trưng cho Kim nên thể tính cứng cỏi (thường bự con). Tuy nhiên như trên đã nói, phương Đông Dương bên trong, Âm bên ngoài nên bề ngoài thì mềm dẽo nhỏ thó, nhưng bên trong tiềm tàng một tinh thần bất khuất và gan lì. Còn phương Tây thì Âm bên trong Dương bên ngoài nên thấy tướng to lớn bề thế, nhưng bên trong lại rất nhu và yếu mềm (đây cũng là lý do tại sao Tây phương thờ vợ). Hơn nữa, chính cái khí nóng của (mặt trời) Thái Dương (vì lằn “vĩ” thuộc về không gian mà phương hướng là không gian, nên lấy lằn xích-đạo làm trục chánh), và Châu Á nằm ngay đường xích-đạo nên người châu Á rất nóng tính, thích đánh lộn, hơn cãi nhau. Còn người phương Tây thích cãi nhau, và họ rất nhát so với người Á Đông.
Cũng như phương Nam thuộc quẻ Ly ở giữa rỗng bụng như cái miệng mở, nói nhiều hoạt bát, tính nóng nhưng thường rộng rãi, nặng về vật chất phô trương. Phương Bắc thuộc quẻ Khảm ở giữa đặc ruột như cái miệng khép, nói năng cẩn trọng, tính nguội nhưng thường hiểm, nặng về tinh thần. Phương Nam Dương bao bọc bên ngoài (Thất), Âm bên trong (Nhị) nên tính tình nhu thuận, còn Phương Bắc, Âm bên ngoài (Lục), Dương bên trong (Nhất) nên tính bạo động. Đây là lý do tại sao toàn thế giới không một nước nào miền Nam đi xâm chiếm miền Bắc (khi phân tranh), mà toàn miền Bắc xâm chiếm miền Nam thôi.
Cổ nhân Chỉ dùng Hà Đồ và Lạc Thư mà trên thông Thiên Văn, dưới đạt Địa Lý, ngồi ở nhà mà vẫn biết hết chuyện thiên hạ. Thật là tài tình!
 

II. LẠC THƯ

Hình 4

Trung Quốc là một nước rất thích thần thoại hóa sử học của họ! Thật ra, lý do không ngoài mục đích tạo đức tin và lòng tín ngưỡng của người dân đối với các Thiên Tử (con trời) của các triều đại để họ có thể dễ cai trị. Vì vậy mà họ đã nói rằng: Hà Đồ là do vua Phục Hy thấy được trên lưng con Long-Mã đã hiện ra trên sông Mạnh Hà, còn Lạc Thư là do vua Đại Vũ đã thấy được trên lưng con rùa thần ở sông Lạc. Và thời nay, nhiều người Việt Nam cho rằng Lạc Thư là của Việt Nam, nhưng thiết tưởng như tôi đã nói trước đây: “ai làm ra không quan trọng, mà quan trọng là chúng ta học được gì từ nó”.
Dựa vào lời tương truyền trên, nên họ lập Đồ Lạc Thư (hình 4) có hình thù giống như con rùa và đặt khẩu quyết như sau:
Đầu đội 9, đuôi đạp 1;
Sườn trái 3, sườn phải 7;
Vai trái 4, vai phải 2;
Chân trái 8, chân phải 6;
Số 5 ở giữa lưng (không có 10).
Cộng tất cả có 9 ngôi, và người ta cũng dùng để lập Cửu Trù hay ma-phương; số 5 ở giữa, tượng là Thái Cực.
Nhìn vào Lạc Thư ta thấy có những khác biệt với Hà Đồ như sau:
1. Các con số tổng cộng là 45 số vì không có con số 10.
2. Tất cả các con số của Lạc Thư là con số đơn, vì những con số Âm đã phân tán ra bốn góc như:
a. Số 2 chuyển qua góc Tây Nam.
b. Số 4 chuyển qua góc Đông Nam.
c. Số 8 chuyển qua góc Đông Bắc.
d. Số 6 chuyển qua góc Tây Bắc.
Bốn phương vị chính Đông (3), Tây (7), Nam (9), Bắc (1) thì thuộc Dương; còn bốn góc là Âm.
3. Hậu Thiên chú trọng nhất là con số 5 ở trung cung, còn được gọi là con số “Tam Thiên Lưỡng Địa”, vì số 5 là số hỗn hợp của Âm căn 2 và Dương căn 3 (2 + 3 = 5). Nghĩa là số 2 là số căn của Âm số, còn số 3 là số căn của Dương số.
– Phần sau là nguyên văn của cụ Nguyễn Duy Cần (2) về những con số trong Lạc Thư do đâu mà có. Biết đâu từ đó, sau nầy có người sẽ tìm được nhiều điều mới lạ khác.
– Lạc Thư: Dương số ở các phương chính, Âm số ở các phương cạnh.
a. Dương thịnh qúa, sinh Âm: số 9 và số 7 ở Tây và Nam là số Dương thịnh, nên giữa Tây và Nam (tức là Tây-nam) phát sinh âm số, số 2 ở Tây Nam:
9 + 7= 16
Bỏ 10 còn lại 6 (16 – 10 = 6)
6 + 6 = 12
Bỏ 10 còn lại 2 (12 – 10 = 2)
Số 2 ở Tây-nam
b. Số 3 ở Đông; số 9 ở Nam:
3 + 9 = 12
Bỏ 10 còn 2 (12 – 10 = 2)
2 + 2 = 4
Số 4 ở Đông-nam
c. Số 7 ở Tây; số 1 ở Bắc:
7 + 1 = 8
8 + 8 = 16
Bỏ 10 còn 6 (16 – 10 = 6)
Số 6 ở Tây-bắc
d. Số 3 ở Đông; số 1 ở Bắc:
3 + 1 = 4
4 + 4 = 8
Số 8 ở Đông-bắc
Số 5 là con số trung bình ở giữa để làm mức độ cho các con số chung quanh. Lấy số Dương căn bản là 5 cộng với số Dương 1, 3, 5, 7, 9 thành ra số Âm 6, 8, 4, 2.
a) 5 + 9 = 14
(Trừ 10 còn lại 4, nên số 4 ở liên tiếp với số 9)
b) 5 + 3 = 8
(Cho nên số 8 ở liên tiếp với con số 3)
c) 5 + 1 = 6
(Cho nên số 6 ở liên tiếp với số 1)
d) 5 + 7 = 12
(Trừ 10 còn lại 2, nên số 2 ở liên tiếp với con số 7).
– Lẽ biến hóa Âm-Dương thấy rõ ở Hà Đồ và Tiên Thiên Bát Quái: Dương số đi vòng thuận, đi quanh phía tả từ Bắc sang Đông, sang Nam rồi từ Nam qua Tây, qua Bắc… (thuận chiều kim đồng hồ).
Âm số đi vòng nghịch, đi quanh bên hữu, từ Tây-nam qua Đông-nam, đến Đông-bắc, đến Tây-bắc, rồi trở lại Tây-nam (ngược chiều kim đồng hồ).
________________
2. “Dịch Học Tinh Hoa” của Nguyễn Duy Cần, tr. 92-94.
a) Dương số bắt đầu từ số 3:
Vì số 1 chưa có số thừa trừ, nên phải tính từ số 3 (lấy số 3 làm căn-bản), số 3 ở phía Đông.
Số 3 nhân cho 3 : (3 x 3 = 9)
Số 9 ở phía Nam (Lão Dương)
Số 3 nhân cho 9 : (3 x 9 = 27)
Trừ 2 lần 10, còn lại 7
Số 7 ở phía Tây
Số 3 nhân cho 7 : (3 x 7 = 21)
Trừ 2 lần 10, còn lại 1
Số 1 ở phía Bắc
b) Âm-số bắt đầu từ số 2, nên lấy số 2 làm căn-bản. Số 2 ở Tây-nam, Thiếu Âm.
2 x 2 = 4 (ở Đông-nam)
2 x 4 = 8 (ở Đông-bắc)
2 x 8 = 16 (trừ 10 còn 6)
Số 6 ở Tây-bắc
2 x 6 = 12 (trừ 10 còn 2)
Số 2 ở Tây-nam
Lạc Thư chỉ nói con số 9 mà không nói số 10, là chú trọng về khí hóa và ngũ-hành; cũng như Hà Đồ nói về số 10, tức là chú trọng về Âm Dương.
Đây là điểm tối quan trọng, không hiểu cụ Nguyễn Duy Cần đã dựa vào sách nào, hay do cụ thẩm thấu được. Nhưng, dù sao thì điểm nầy độc giả cũng nên nghiền ngẫm!
***************
Ma Phương:
4 9 2
3 5 7
8 1 6
Nếu cộng tất cả các chiều xuôi, ngược, dọc, ngang gì thì số thành vẫn là 15 (15 – 10 = 5). Vậy nên, con số 5 là con số Thái Cực ở trung cung, sinh hóa ra vạn vật. Những vị trí và con số của Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái có một giá trị rất cao đối với những khoa thực dụng như: Y-học, Lý-Mệnh-học, Toán-học, Hóa-học v.v… Vì huyền nghĩa của nó đã gồm thâu toàn bộ vũ trụ vào trong ấy. Triết thuyết của Đông phương nói chug và Dịch Học nói riêng rất xem trọng những con số, phương hướng và vị trí của những con số trên (Dịch Số)! 
III. TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Hình 5

Ngài Phục Hy vạch ra tám quẻ thành hình Bát Quái mà hình dung đại tạo hóa của Thiên Địa. Như trên đã đề cập về Thái Cực là Âm Dương chưa phân, lúc vũ trụ còn hỗn mang gọi là Thái Cực vì bao la đến vô cùng, vô tận. “Sự cùng tắc biến”, nên Thái Cực phân hóa thành Âm-Dương, mà hình thành trời (Càn) và đất (Khôn). Tuy nhiên, xưa nay bàn cãi về Bát Quái rất nhiều, nhưng chưa ai xác định được cách vạch tám Quẻ. Riêng cụ Đào văn Dương đã viết như sau:
– Riêng biệt về quẻ CÀN và KHÔN, Thánh Nhân lại ghi thêm DỤNG CỬU và DỤNG LỤC mà hậu thế muốn hiểu rõ phải xét qua ba mặt, TRIẾT HỌC, KHOA HỌC, và SỬ HỌC mới khám phá ra DỤNG CỬU và DỤNG LỤC.
Cho đến nay, không hề có một học giả Trung Hoa nào, trải qua mấy ngàn năm, đã hiểu nổi DỤNG CỬU và DỤNG LỤC. Những học giả lỗi lạc của Trung Hoa như Trần Thục Am, Kinh Phòng, và ngay cả những nhân tài bậc nhất như Chu Liêm Khê và Thiệu Khang Tiết cũng không giải thích nổi. Lý do rất giản dị là các vị đó chỉ lưu tâm đến TRIẾT HỌC, mà không biết còn phải phối hợp với TOÁN HỌC, và SỬ HỌC mới hiểu được cặn kẻ DỤNG CỬU và DỤNG LỤC…
Khởi điểm là Lưỡng Nghi DƯƠNG (

) và ÂM (

): đó chỉ là DỤNG CỬU và DỤNG LỤC lần 1 để mỗi TƯỢNG có 1 hào.
Ta thực hiện DỤNG CỬU lần nữa thì được hai tượng THÁI DƯƠNG (I) và THIẾU ÂM (II), tiếp đến là DỤNG LỤC thì được hai tượng THIẾU DƯƠNG (III) và THÁI ÂM (IV), mỗi tượng có 2 hào:

(I)

](II)

(III)

](IV)

Ta cũng nên biết: ta khởi điểm từ hào DƯƠNG (tượng I và III), vạch thêm hào Dương (tức DỤNG CỬU) thì được THÁI DƯƠNG (tượng I), còn vạch thêm hào Âm (tức DUNG LỤC) thì tất nhiên sẽ được THIẾU DƯƠNG (tượng III). Cũng như trên, ta khởi điểm từ Hào Âm (tượng II và IV) mà vạch thêm Hào Âm (tức DỤNG LỤC) thì được Thái ÂM (tượng IV), còn vạch thêm HÀO DƯƠNG (tức DỤNG CỬU) thì được THIẾU ÂM (tượng II).

Vậy TỨ TƯỢNG phải là THÁI DƯƠNG (I), THIẾU ÂM (II), THIẾU DƯƠNG (III), và THÁI ÂM (IV)…
Bây giờ, ta thực hiện DỤNG CỬU lần nữa (lần thứ ba) xuống dưới TỨ TƯỢNG thì được bốn quái thuộc CÀN ĐẠO là CÀN (1), ĐOÀI (2), LY (3), CHẤN (4):

1

2

3

4

Ta thực hiện DỤNG LỤC thì được 4 quái thuộc KHÔN ĐẠO là TỐN (5), KHẢM (6), CẤN (7), KHÔN (8).

5

6

7

8

Vậy BÁT QUÁI NGUYÊN THỦY phải là: CÀN (1), ĐOÀI (2), LY (3), CHẤN (4), TỐN (5), KHẢM (6), CẤN (7), KHÔN (8).
Nếu ta khởi điểm từ HÀO ÂM (

) rồi đến HÀO DƯƠNG (

), ta phải thực hiện DỤNG LỤC trước, rồi DỤNG CỬU sau. Ta sẽ có thứ tự ngược lại: TỨ TƯỢNG sẽ là THÁI ÂM, THIẾU DƯƠNG, THIẾU ÂM, THÁI DƯƠNG, còn BÁT QUÁI thành KHÔN, CẤN, KHẢM, TỐN, CHẤN, LY, ĐOÀI, CÀN.
Như vậy, khởi điểm từ DƯƠNG đến ÂM hay từ ÂM đến DƯƠNG, kết quả chỉ là đi từ trái sang phải hay từ phải sang trái 3.
Phần nầy tác giả bàn rất hay, nhưng tôi lại thấy có điều không ổn, hình như không đúng với Dịch Lý. Vì theo Dịch Lý thì vạch quẻ phải vạch từ dưới lên, và đọc quẻ thì đọc từ trên xuống, vả lại lý do có Bát Quái theo như truyền thuyết là như thế nầy:
– Nguyên lúc đầu Thánh Phục Hy thoạt thấy được lẽ Vũ Trụ Tạo Hóa, chỉ có một Dương một Âm. Vậy nên vạch một nét cơ (lẻ) – một nét ngang liền (

) – tức là nét Dương; lại vạch một nét ngẫu (chẵn) – hai nét ngang đứt (

) – tức là nét Âm.
Vạch xong hai nét rồi, lại thấy ở trong Vũ Trụ phải có Thiên, Địa, Nhân, mới đủ Tam Tài mà thành được Vũ Trụ. Vì vậy Dương phải có ba nét và Âm cũng phải có 3 nét. Vạch xong hai Quẻ 3 nét ấy rồi thì, thấy quẻ 3 nét Thuần Dương là Càn, quẻ 3 nét Thuần Âm là Khôn.
Khi vạch xong 2 quẻ Càn, Khôn rồi, lại thấy ở trong Vũ Trụ chẳng bao giờ cô Dương mà sinh, và cô Âm mà thành. Nếu chỉ có Thuần Âm, Thuần Dương mà thôi thì không thể thành được Vũ Trụ vậy, nên phải vạch thêm sáu quẻ nữa. Đạo Càn (Dương) nhân giao dịch với Âm mà thành ra
____________________

3. “Những Khám Phá Mới Về Dịch Kinh” của Đào Văn Dương, trang 19-20.
Dựa theo cụ Đào Văn Dương thì: biết bao nhiêu siêu nhân từ xưa đã không thấu triệt cách vạch Quẻ của thánh nhân. Theo cụ thì luôn cả Thầy Thiệu Khang Tiết là một đại tông sư Dịch Học mà cũng chưa giải thích hết được. Thử hỏi, nếu cổ nhân truyền lại một môn học nào đó, liệu có đúng 100% không? Chắc chắn phải có những sơ sót, nên những người đi sau phải có bổn phận bổ túc. Cũng thế, dù đệ tử chân truyền của Ngài Trần Đoàn viết sách Tử Vi để lại cũng chưa chắc là đúng hết, chưa kể tam sao thất bổn. Cho nên, nếu chúng ta tin thì phải “tin trong sự sáng suốt” như Đức Phật đã nói!

Tốn, Ly, Đoài; Đạo Khôn (Âm) nhân giao dịch với Dương mà thành ra Chấn, Khảm, Cấn. Do đó ta thấy từng hào một biến từ dưới lên như sau:

Quẻ Càn

Tốn

Ly

Đoài

Quẻ Khôn

Chấn

Khảm

Cấn

Nhưng ở trên là nói theo lý Âm Dương giao dịch, còn theo vạch quẻ thì Thánh Nhân vạch quẻ Càn từ dưới lên thành 3 vạch Dương (vạch dài). Khi đã đến cùng thì hào trở lại động để di xuống thành ra Đạo Càn có:

Càn (1) Đoài (2) Ly (3) Chấn (4)

Thánh Nhân vạch quẻ Khôn từ dưới lên thành 3 vạch đứt. Khi đã đến cùng thì hào trở lại động đi xuống thành ra Đạo Khôn có:

Tốn (5) Khảm (6) Cấn (7) Khôn (8)

Ta thấy trong Tiên Thiên Bát Quái các quẻ đi theo chiều nghịch vì đó là đạo Tự Nhiên trước khi có trời đất chuyển nghịch để tìm về quá khứ, (bởi Thánh Nhân muốn mượn cái đã có để tìm về cái chưa có thì phải chuyển nghịch). Do đó, trong Tiên Thiên Bát Quái trước là quẻ Càn số 1 động lần đầu thành Đoài số 2, động lần sau thành quẻ Ly số 3, động lần nữa thành Chấn số 4. Nhưng tại sao Càn động lần thứ 3 lại không thành Tốn mà thành Chấn. Đó là bởi Thánh Nhân không cho động hào dưới của quẻ Càn ở lần thứ 3, vì nếu cho động như thế thì Càn động hết 3 hào Dương sẽ trở thành quẻ Khôn còn gì, nên phải đổi thành động hào 3 ở trên và hào 2 ở giữa do trước đã động qua hai lần mà dùng cho lần thứ 3.

Kế đó là quẻ Khôn đối với Càn vì có Trời thì phải có đất. Quẻ Khôn số 8 động lần đầu thành Cấn số 7, động lần sau thành Khảm 6, động lần nữa thành Tốn số 5. Điểm tối yếu ở đây là Đạo Trời (Càn) thuận động chuyển số theo chiều thuận, 1, 2, 3, 4; Còn Đạo Đất (Khôn) chuyển nghịch số 8, 7, 6, 5. Đây là nguyên ý của Thánh Nhân nhưng chưa thấy ai bàn đến.

Đạo lý là như vậy, nhưng khi Thánh Nhân lập Đồ Tiên Thiên Bát Quái là thuận theo lẽ tự nhiên của Vũ Trụ mà sắp xếp theo từng cặp tương đối với nhau, như:

– Càn đối với Khôn: Càn là Trời ở trên, ở phương Nam, nóng thuộc Hỏa (Dương); Khôn là Đất ở dưới, ở phương Bắc, lạnh thuộc Thuỷ (Âm), đối diện với nhau định ngôi Trời Đất.
– Đoài đối với Cấn: Đoài ở Đông Nam vì Đông Nam có nhiều đầm hồ; Cấn ở Tây Bắc vì Tây Bắc có nhiều đồi núi, đó là núi đầm thông khí.
– Chấn đối với Tốn: Tốn ở Tây Nam vì Tây Nam là nơi nóng lạnh xô xát nhau sinh ra gió; Chấn ở Đông Bắc vì gió từ Tây Nam thổi qua Đông Bắc gây ra tiếng động, hoặc sáng (Ly) tối (Khôn) cọ xát nhau sinh ra sấm, đó là sấm gió xô xát.
– Ly đối với Khảm: Ly là mặt trời ở Đông vì mặt trời mọc phương Đông, Khảm là mặt trăng nên hiện ở phương Tây, đó là nước lửa thân thiết nhau.

Thuyết Quái Truyện nói rằng: “Trời Đất định vị trí phối hợp trên dưới, Núi Đầm một cao một thấp đủ thông khí, Sấm Gió tuy mỗi cái tự hưng động nhưng có thể ngầm nhập giao nhau, ứng hóa với nhau, Thủy Hỏa tuy khác tính nhưng không ghét nhau, khác mà đỡ đần nhau, Bát Quái đắp đổi nhau, lay động chà xát hỗn hợp mà sinh ra 64 quẻ”, là vậy. (Tuy nhiên, có người hiểu lầm cho rằng Thánh Nhân dựa vào địa dư của Trung Quốc mà lâp ra).

THỨ TỰ CỦA TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Tại sao sắp xếp theo thứ tự Càn – Đoài – Ly – Chấn – Tốn – Khảm – Cấn – Khôn?

Đối với Dịch học mà nói thì dù có thiên biến vạn hóa cũng không thoát khỏi Âm và Dương. Thầy Thiệu Khang Tiết nói: “Thứ tự Tiên Thiên Bát Quái: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Càn, Đoài, Ly, Chấn thuộc phần Dương. Tốn, Khảm, Cấn, Khôn thuộc phần Âm. Càn, Đoài là Thái Dương (Lão Dương), Ly, Chấn là Thiếu Âm; Tốn, Khảm là Thiếu Dương, Cấn, Khôn là Thái Âm”.

Lại một thuyết khác cho rằng:
– Càn là Trời, có Trời mới có muôn vật.
– Đoài tiếp theo là vì đã có trời đất tất phải có sương mù.
– Ly tiếp theo là vì đã có sương mù tất phải có khí nóng đối lại.
– Chấn là do hơi nước và khí nóng gây ra nên phải tiếp theo Ly.
– Tốn tiếp theo Chấn bởi lẽ sự chuyển động sẽ gây ra gió.
– Khảm tiếp theo, bởi lẽ khi có gió thì nước chuyển theo.
– Cấn liền theo Khảm vì nước lưu chuyển kết quả sẽ làm đất thành đồi thành núi.
– Khôn ở cuối vì là sự hoàn tất của sự che chỡ, và dung chứa tất cả.

Phân Âm-Dương là thành lưỡng nghi. Lấy Dương thay cho trời, lấy Âm thay cho đất. Hào Âm và hào Dương là ký hiệu căn để hình thành Bát Quái. Hai nghi Âm – Dương trong đồ Thái Cực ôm ngoạm lấy nhau, biểu thị cho Âm Dương giao nhau trong hài hòa, để sinh sinh biến biến.

Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng là Âm Dương trùng nhau và Âm Dương giao nhau mà ra.

Tứ Tượng sinh Bát Quái, vẫn là Âm-Dương trùng hợp mà thành. Lưỡng Nghi là Âm-Dương tượng cho trời đất, giờ thêm một hào nữa cho đủ tam tài (trời, đất, người) mà thành Bát Quái. Và điều nầy cũng nói lên con người, đầu đội trời chân đạp đất, là vật chí linh được dự phần với trời đất để cải sửa số phận, hay bổ túc cho vũ trụ. Cao Hanh nói: “Thiếu Dương, Lão Dương, Thiếu Âm, Lão Âm vẫn tượng trưng cho tứ thời, Bát Quái chính là bốn cái đó tạo thành”.

Trong Tiên Thiên Bát Quái thấy từ 1, 2, 3, 4 đi ngược chiều kim đồng hồ; còn 5, 6, 7, 8 thì lại thuận chiều. Đây là một điểm tối quan trọng cho môn Tử Vi, nhưng chưa thấy ai bàn đến. Chúng ta sẽ bàn trong phần thành lập lá số Tử Vi, và an sao Tử Vi.IV. HẬU THIÊN BÁT QUÁI

Nhiều người cho rằng Hậu Thiên Bát Quái là dựa theo phương vị của các quẻ Thuyết Quái trong câu:

1. Đế xuất hồ Chấn: Vũ trụ vận động bắt đầu từ quẻ chấn (Quẻ Chấn là phương Đông, lệnh của tháng 2, mùa Xuân, mặt trời phương Đông mọc lên, là thời kỳ tỏa chiếu cho vạn vật sinh trưởng).

2. Tế hồ Tốn: Vận hành đến quẻ Tốn, vạn vật đã đầy đủ, hưng vượng (Quẻ Tốn là Đông Nam, lệnh của tháng 3 tháng 4, mặt trời đã lên cao, chiếu rọi vạn vật rõ ràng).

3. Tương kiến hồ Ly: Quẻ Ly là tượng trong ngày ánh sáng rực rỡ, mọi vật đều thấy rõ (Quẻ Ly là phương Nam lệnh của tháng 5, chính là lúc mặt trời ở trên cao, nhìn rõ mọi vật đang sinh trưởng).

4. Chí dịch hồ Khôn: Thiên đế (chỉ vũ trụ) giao cho đất (Khôn) trọng trách (dịch) nuôi dưỡng vạn vật (Quẻ Khôn là phương Tây Nam, lệnh của tháng 6 tháng 7; khôn là đất, nuôi dưỡng vạn vật, thời kỳ vạn vật đã phát triển đầy đủ).

5. Thuyết ngôn hồ Đoài: là lúc vạn vật tươi vui (thuyết tức tươi vui) bèn ứng ở quẻ Đoài là phương Tây lệnh của tháng 8, chính là lúc hoa quả trĩu đầy, lúc mừng được mùa).

6. Chiến hồ Càn: Thời khắc tương ứng với quẻ Càn, vạn vật mâu thuẫn, đối lập, đấu tranh (Quẻ Càn là phương Tây Bắc, lệnh của tháng 9 tháng 10. Mặt trời đã Xuống chân phía Tây, là lúc tối sáng, Âm-Dương đấu tranh lẫn nhau).

7. Lao hồ Khảm: Khi vũ trụ đã vận hành đến khảm, mặt trời đã lặn, vạn vật mệt mỏi (Quẻ Khảm là phương Bắc, lệnh của tháng 11. Khảm là nước không ngừng chảy, nghĩa là lao khổ. Mặt trời ở phương nầy hoàn toàn không có, vạn vật đã mệt mỏi, là lúc nên nghỉ).

8. Thành ngôn hồ Cấn: Vũ trụ vận hành đến quẻ Cấn là đã hoàn thành một chu kỳ và sắp bước sang một chu kỳ mới (Quẻ CẤn là phương Đông Bắc, lệnh của tháng 12 và tháng Giêng, tức giao thời của Đông và Xuân, đen tối sắp qua, ánh sáng sắp tới, vạn vật đến đây đã kết thúc một ngày, cũng là lúc ngày mới sắp bắt đầu).

Rất nhiều người đã cho rằng, “quá trình tuần hoàn của Hậu Thiên Bát Quái hầu như là quá trình thuận, tức mô phỏng trời quay sang trái”. Tức là sự chuyển động tự nhiên của trái đất phải quay theo chiều kim đồng hồ. Trong “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Qúi Đôn, chương Hình Tượng loại có bàn như sau:

– Đối với thuyết “trời quay về tả, mặt trời, mặt trăng và 5 vì sao (Kim tinh, Mộc tinh, Thủy tinh, Hỏa tinh, Thổ tinh) chuyển về hữu”, xưa nay bàn cãi đã nhiều. Nhưng theo Kinh Dịch: “Trời đất thuận chiều mà chuyển động, cho nên mặt trời, mặt trăng đi không quá độ”, thì cứ lấy câu ấy ta cũng đủ xét đoán.
Cứ xem trên mặt đất thì thấy 7 sao (tức là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, mặt trời và mặt trăng) lớn đi về phía tả, chứ có thấy chuyển về phía hữu đâu? Nay xét ngược lại cho hợp với trời, thì không chỗ nào không có thể bảo là thuận động.

Có Trời Đất thì có bốn Mùa, rồi bốn Mùa lại chia ra thành tám Thời: Xuân Thủy (đầu Xuân), Xuân Chí (giữa Xuân), Hạ Thủy (đầu Hạ), Hạ Chí (giữa Hạ), Thu Thủy (đầu Thu), Thu Chí, Đông Thủy, Đông Chí.

Đông Ba nói: “Vua Phục Hy đặt ra 8 quẻ, mỗi quẻ 3 vạch để tượng trưng 24 khí tiết. Thiên Nguyệt Lệnh trong kinh Lễ chua rằng: Chu Công làm ra phép xem giờ, định ra 24 khí, 72 tiết hậu. Lấy 5 ngày là một tiết hậu, một tháng 6 tiết hậu, 5 nhân với 6 là 30 ngày, 3 tiết hậu là một khí, một khí có 15 ngày” (4).

Họ lấy Khảm, Chấn, Ly, Đoài làm Quẻ bốn Mùa. Bốn Quẻ nầy mỗi Quẻ chủ quản 6 Tiết Khí: Đông chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn, Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập do Khảm chủ quản; Xuân phân, Thanh Minh, Cốc Vũ, Lập Hạ, Tiểu Mãn, Mang Chủng do Chấn chủ quản; Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử, Lập Thu, Xử Thử, Bạch Lộ do Ly chủ quản; Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng, Lập Đông, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết do Đoài chủ quản. Mỗi Quái có 6 Hào, mỗi Hào quản một Tiết Khí, và mỗi Tiết Khí có Sơ Hậu, Thứ Hậu, Mạt Hậu nên 24 Tiết Khí có tổng cộng 72 Hậu.

Lý luận Quái Khí nói trên, là lấy từ Quái Cấn đến Quái Càn làm Quái giao biến tin tức cho 12 Tháng. Lấy 48 Quái còn lại phối với 12 Tháng như vậy mỗi Tháng có 5 Quái tin tức, mỗi Quái 6 Hào lần lượt chủ quản 6 Ngày, và 5 Quái có 30 Hào làm số ngày cho mỗi Tháng. Đây là chỗ dựa để chế định lịch pháp mà sách “Tam Thống Lịch” của cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm, “Chính Quan Lịch” đời Bắc Ngụy, “Khai Nguyên Đại Diễn Lịch” đời Đường đều áp dụng (5).

Thứ Tự Hậu Thiên Bát Quái thể hiện nam nữ giao hợp, vạn vật hóa sinh, thuyết minh Đạo Càn thành nam,Đạo Khôn thành nữ. Nếu được khí của cha làm nam, được khí của mẹ làm nư. Ba nam đều lấy Khôn mẹ làm Thể, Càn cha làm Dụng; ba nữ đều lấy Càn cha làm Thể, Khôn mẹ làm Dụng. Tượng trưng cho một gia đình: Càn là cha, Khôn là mẹ, Chấn là con trai trưởng, Tốn là con gái trưởng, Khảm là con trai giữa, Ly là con gái giữa, Cấn là con trai út, Đoài là con gái út. Còn biểu tượng cho cơ thể con người thì Càn là đầu, Khôn là bụng, Chấn là chân, Ly là mắt, Đoài là miệng, Tốn là tay và đùi, Khảm là tai, Cấn là mũi.

Trong Tử Vi: Càn ở cung Hợi, Khôn ở cung Thân, Chấn ở cung Mão, Tốn ở cung Tỵ, Khảm ở cung Tí, Ly ở cung Ngọ, Cấn ở cung Dần, Đoài ở cung Dậu. Những Quẻ nầy thấy cần cho việc đoán sanh con, trai hay gái, tốt hay xấu cho đương số, và sẽ tốt cho đứa nào trong Tử Vi. Không biết có ai áp dụng Bát Quái để đoán cung Tử Tức hay Phu Thê trong Tử Vi chưa, nhưng trong thực tế tôi áp dụng thấy cũng khá đúng.
____________________

TIÊN THIÊN QUÁI
PHỐI VỚI TƯỢNG CỦA HÀ ĐỒ

Hình 7

“Chu Dịch Triết Trung – Khải Mông Phụ Luận” nói rằng: “Phương bên trái của Hà Đồ, Dương ở trong Âm ở ngoài, lấy Tiên Thiên Quái phối vào là Chấn Ly Đoài Càn, tượng trưng Dương trưởng, Âm tiêu vậy. Phương bên phải nó, Âm ở trong Dương ở ngoài, lấy Tiên Thiên phối vào là Tốn Khảm Cấn Khôn, tượng trưng Âm Trưởng, Dương tiêu. Đại để vì lẽ đó tượng cho hai khí giao động”.

HẬU THIÊN QUÁI
PHỐI VỚI TƯỢNG CỦA HÀ ĐỒ

Hình 8

“Khải Mông Phụ Luận” nói rằng: “Số 1, 6 của Hà Đồ là Thủy, phối với quẻ Khảm của Hậu Thiên. Số 3, 8 là Mộc phối với hai quẻ Chấn Tốn của Hậu Thiên. Số 2, 7 là Hỏa phối với quẻ Ly của Hậu Thiên. Số 4, 9 là Kim phối với hai quẻ Đoài Càn của Hậu Thiên. Số 5, 10 là Thổ phối với hai quẻ Khôn Cấn của Hậu Thiên, hai quẻ ấy chu lưu ở Xuân Hạ Thu Đông, bốn quý mà thiên vượng ở chỗ giao của Sửu Mùi. Chỉnh lại bức Đồ hình dùng để tượng trưng cho việc thuận sắp bày năm khí Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ”.

TIÊN THIÊN QUÁI
PHỐI VỚI SỐ CỦA LẠC THƯ

Hình 9

“Khải Mông Phụ Luận” nói rằng: “Chín số của Lạc Thư (hư) không dùng, số 5 ở giữa đem phối với Tiên Thiên Bát Quái, Dương ở trên Âm ở dưới, vì vậy 9 là Càn, 1 là Khôn. Nhân từ 9 mà nghịch số. Chấn 8, Khảm 7, Cấn 6. Càn sinh ba Dương vậy. Lại từ 1 mà thuận số Tốn 2, Ly 3, Đoài 4. Khôn sinh ba Âm vậy. Lấy 8 số và 8 quẻ phối với nhau, mà vị trí của Tiên Thiên Bát Quái chính là hợp khớp với nhau vậy”.

Theo ông Mai Cốc Thành: “Thuật gia lấy Càn phối 9, Khôn phối 1, Ly phối 3, Khảm phối 7, đó là số lẻ, vì vậy là Dương; Đoài phối 4, Chấn phối 8, Tốn phối 2, Cấn phối 6, đó là số chẵn vì vậy là Âm”.

HẬU THIÊN QUÁI
PHỐI VỚI SỐ CỦA LẠC THƯ

Hình 10

“Khải Mông Phụ Luận” nói rằng: “Trên Hỏa dưới Thủy vì vậy 9 là Ly, 1 là Khảm. Hỏa sinh táo Thổ, vì vậy 8 ở bậc dưới 9 mà là Cấn. Táo Thổ sinh Kim vì vậy 7, 6 ở bậc dưới 8 mà là Đoài, Càn. Thủy sinh thấp Thổ, vì vậy 2 tiếp sau 1 mà là Khôn. Thấp Thổ sinh Mộc, vì vậy 3, 4 tiếp sau 2 mà là Chấn, Tốn. Lấy 8 số và 8 quẻ phối với nhau mà vị trí của Hậu Thiên Bát Quái hợp vậy”.

“Theo thầy Thiệu Khang Tiết: ‘Lấy Văn Bát Quái là vị trí để dùng, cái học Hậu Thiên. Chu Tử lấy số của Lạc Thư để dùng. Thuật gia phi cung đến thay, toàn dùng Hậu Thiên Bát Quái phối với Lạc Thư. Phép nầy lấy Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, giữa 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9 làm thứ tự’”.

“Lưu Hâm nói rằng: ‘Bát Quái Cửu Cung cùng nhau làm biểu lý’”.

“Trương Hoành nói rằng: ‘Thánh Nhân gặp việc quan trọng dùng Bốc Phệ, việc tạp dùng Cửu Cung’, thì từ đó đến nay đã xa lắm vậy”.

***
May thay, nay nhờ “Hiệp Kỷ Biện Phương Thư” mà chúng ta lại được học những Đồ hình quý giá nầy, xin độc giả đừng bỏ qua mà hoang phí!

Những gì sưu tầm được và viết ra đây chỉ là một phần nhỏ của DỊCH, mà tôi đã áp dụng để khám phá TỬ VI, nên không làm sao hoàn toàn và đầy đủ như quý vị mong đợi. Xin độc giả thông cảm!
__________________
* “Hiệp Kỷ Biện Phương Thư” của Mai Cốc Thành chủ biên, Nhà Xuất Bản Cà Mau (trang 47-52). Sách nầy là sách lịch thông dụng của triều Thanh, là vạn niên thông thư, chủ trì biên soạn bởi nhà Thiên Văn học Mai Cốc Thành, là cháu của nhà số học trứ danh Mai Văn Đỉnh, dâng lên hoàng đế Càn Long thẩm định và ban phát ra cho thiên hạ, vì thế còn có tên là “Thẩm Định Biện Phương Thư”.

83 LOẠI CÁCH CỤC SÁT VỚI PHONG THỦY NHÀ Ở – PHẦN III

0
  1. HUYỀN KHÔNG SÁT : “tòa nhà treo ở không trung

Sát này có điểm tương tự với Áp đỉnh sát. Nếu tòa nhà có phần lồi ra như treo trong không trung, người sống trong tòa nhà đã phạm phải sát này.

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

[Nguy hại do hung sát]  : Người phạm phải sát này căn cơ không ổn định, muôn sự bất lợi, gia đình và sự nghiệp đều dễ mắc phải tai họa khó lường trước được.

Phương pháp hóa giải] : Tốt nhất nên hết sức tránh ở trong ngôi nhà “ treo trên không” này. Nếu bắt buộc phải ở có thể treo Sơn Hải trấn vào trung tâm của ngôi nhà.

Huyền không sát  – Ví dụ hình 1

Tòa nhà này mặc dù treo trên không, nhưng do góc độ treo khá nhỏ, đoạn dưới có chống đỡ, vì thế tính nguy hại là tương đối nhỏ.

Huyền không sát – Ví dụ hình 2.

Góc độ treo trên không của tòa nhà này rất lớn, đoạn cuối của nó không có bất kỳ sự chống đỡ nào, vì vậy tính nguy hại khá lớn.

Huyền không sát – Ví dụ hình 3.

Mặc dù góc độ treo trên không  của tòa nhà này rất lớn, nhưng thể tích phần treo trên không rất nhỏ, vì thế tính nguy hại là tương đối nhỏ.

Huyền không sát – Ví dụ hình 4.

Mặc dù ngôi nhà này treo trên không, nhưng cách mặt đất rất gần, vì thế tính nguy hại cũng là tương đối nhỏ.

17.YÊN THÔNG SÁT : “ cửa sổ đối diện với ống khói

Đối diện nhà có ống khói, đặc biệt là cửa sổ đối diện với ống khói.

[ Nguy hại do hung sát] : phạm phải sát này dễ có các bệnh về hệ hô hấp. Nếu miệng ống khói đối diện với cửa sổ thì tính nguy hại là lớn nhất.

[ Phương pháp hóa giải] : Treo một bức tranh sơn thủy hoặc đặt Sơn hải trấn trong phòng khách.

Yên thông sát – ví dụ hình 1

ống khói trong hình nằm ở trung tâm của khu dân cư nhỏ này, bị nhiều tòa nhà “bao quanh”, khí đục của nó không thể nào phát tán ra ngoài được, tính nguy hại rất lớn.

Yên thông sát – ví dụ hình 2.

ống khói này không đối diện với cửa sổ của ngôi nhà phía sau nhưng đối diện với khe hở giữa hai ngôi nhà , vì thế tính nguy hại khá nhỏ.

Yên thông sát – Ví dụ hình 3.

Thể tích của ống khói tỷ lệ thuận với tính nguy hại. Khoảng cách của miệng ống khói với ngôi nhà tỷ lệ nghịch với tính nguy hại. Ngôi nhà này đối diện với phần đáy của ống khói, mà thể tích của ống khói rất lớn, vì thế tính nguy hại cũng là rất lớn.

Yên thông sát – ví dụ hình 4

Cửa sổ này đối diện với miệng ống khói, có thể trực tiếp chịu  sự xâm nhập và tấn công của khí đục, tính nguy hại khá lớn.

Yên thông sát – ví dụ hình 5

Rất nhiều cửa sổ của tòa nhà này đối diện với miệng ống khói, có thể đồng thời chịu sự xâm nhập và tấn công của khí đục.

  1. TỬ GIÁC SÁT:ngôi nhà nằm ở góc của tòa nhà

Ngôi nhà nằm ở góc lõm của tòa nhà là đã phạm phải sát này, nếu chỗ lõm này là góc nhọn thì càng hung.

Nguy hại do hung sát] : Thế vận của chủ nhà suy yếu, công ty làm ăn không thuận lợi.

[ Phương pháp hóa giải]:  Treo hổ phù bằng gỗ đào đã được khai quang vào cửa sổ đối diện với vị trí ở chỗ lõm này.

Tử giác sát – ví dụ hình 1

Tử giác sát không những kẹp gió, hơn nữa còn chắn ánh nắng mặt trời, có hại mà không có lợi. Sống ở nơi “ góc chết này” cả ngày không nhìn thấy ánh nắng mặt trời, âm khí rất nặng.

Tử giác sát – Ví dụ hình 2.

Ngôi nhà ở chỗ ngoặt này mặc dù có thể bị bức tường trước mặt chắn ánh nắng mặt trời, nhưng ở khoảng thời gian nào đó trong ngày vẫn nhận được sự chiếu sáng của ánh nắng mặt trời, vì thế tính nguy hại của nó nhỏ hơn so với ví dụ hình 1.

  1. CÁT CƯỚC SÁT: “cửa chính sát với đường cái

Mặt chính diện của ngôi nhà sát với đường cái, cửa chính cách đường trong vòng 1 mét.

Nguy hại do hung sát] : dòng xe, dòng khí trên đường trực tiếp xung thẳng qua trước cửa, giống như dao cắt phải chân, chủ nhà dễ gặp họa thương tật.

Phương pháp hóa giải]: đặt Thái sơn thạch cảm đương vào nơi sát với cửa chính

Cát cước sát – Ví dụ hình 1

Đường trong tranh này mặc dù rất gần cửa nhưng vì không phải là đường chính, vì thế tính nguy hại nhỏ.

Cát cước sát  – Ví dụ hình 2

Tính nguy hại của sát này được quyết đinh bởi hai nhân tố: Khoảng cách và tốc độ xe. Nếu khoảng cách cửa chính với đường càng gần thì tính nguy hại càng lớn, tốc độ xe đi trên đường càng nhanh cũng tỷ lệ thuận với tính nguy hại của sát này.

  1. PHÁ MẶT SÁT:tường bên của tòa nhà cao tầng bên cạnh cắt thẳng qua

Nhà gần với tòa nhà cao tầng, tường của tòa nhà cao tầng  cắt thẳng xuống, ngôi nhà bị cắt đã phạm phải sát này.

Nguy hai do hung sát ] : chủ nhà nhiều bệnh, cơ thể yếu mệt, người nặng nề, có thể mắc bệnh về máu.

Phương pháp hóa giải] :  treo Hổ phù bằng gỗ đào đã khai quang vào vị trí gần với tòa nhà cao tầng.

Phá mặt sát – Ví dụ hình 1

Ngôi nhà ở nơi vòng tròn bị tường bên của tòa nhà trên nó cắt thẳng xuống, như “lưỡi dao cắt thẳng xuống trán”

Phá mặt sát – Ví dụ hình 2

Độ cao của tòa nhà cắt thẳng xuống càng cao thì tính nguy hại càng lớn. Tòa nhà trong hình này khá thấp, vì thế tính nguy hại là tương đối nhỏ.

  1. PHÁ LIỄM SÁT :đối diện với vật thể kiến trúc có mặt ngoài không bằng phẳng”.

Ngôi nhà đối diện với vật thể kiến trúc có mặt ngoài lồi lõm không bằng phẳng.

[ Nguy hai do hung sát] : người phạm phải sát này tinh thần dễ mất tập trung, hoặc mắc các bệnh về tinh thần.

Phương pháp hóa giải] : có thể treo gương bát quái bằng gỗ đào lên trên tường ngoài đối diện với tòa nhà này.

Phá liễm sát – Ví dụ hình 1

Bên ngoài tòa nhà này có vật lồi ra, giống như trên gương mặt của một người có vết sẹo. Người sống đối diện với tòa nhà này đã phạm phải sát này.

Phá liễm sát – Ví dụ hình 2

Ngược lại với hình trên, phần ngoài của tòa nhà này có chỗ lõm vào, giống như trên mặt của một người có chỗ lồi lõm. Người sống đối diện với tòa nhà này cũng đã phạm phải sát này.

  1. PHÁ NÃO SÁT: “ngôi nhà gần với chỗ lõm giữa tòa nhà

Một tòa nhà thấp nằm lọt thỏm giữa hai tòa nhà cao giống như lưỡi đao bổ đôi phần đầu, ngôi nhà thấp nhỏ đã phạm phải sát này.

Nguy hại do hung sát] : người phạm phải sát này dễ mắc các bệnh về đầu, về mặt công việc dễ đứt gánh giữa đường, khó đạt thành tưu.

Phương pháp hóa giải] : đặt Sơn hải trấn hoặc Thái sơn thạch cảm đương trong phòng khách.

Phá não sát – Ví dụ hình 1

Nếu chiều rộng khoảng không của tòa nhà tương đối lớn như hình này thì tính nguy hại của sát này khá nhỏ.

Phá não sát – Ví dụ hình 2

Nếu chỗ lõm của tòa nhà giống như hình lưỡi dao, có góc nhọn cắt xuống sẽ tăng thêm tính nguy hại của sát này.

Phá não sát – Ví dụ hình 3

Sát này giống như  Cô độc sát sẽ được giới thiệu ở phần sau, điểm khác nhau nằm ở chỗ: ngôi nhà ở giữa sát và hai bên liền thành một thể, hơn nữa vị trí “miệng dao” dựa lên trên, còn ngôi nhà ở giữa Cô độc sát độc lập, hơn nữa vị trí dựa xuống dưới.

Phá não sát – Vị dụ hình 4

Sát này nhằm vào các vật thể kiến trúc có người ở lại trong thời gian dài như chung cư, văn phòng làm việc….. Nếu sân vận động phạm phải sát này thì không có gì nguy hại.

  1. CÔ ĐỘC SÁT:hai tòa nhà lớn kẹp một tòa nhà

Hai bên nhà liền kề với hai vật thể kiến trúc cao lớn, hai tòa nhà lớn kẹp một tòa nhà nhỏ, ngôi nhà bi kẹp ở giữa đã phạm phải sát này.

Nguy hại do hung sát] : chủ nhà phạm phải sát này thường nghèo đói, phá tài cô độc.

Phương pháp hóa giải]: đặt động thạch anh tím vào trung tâm nhà để làm chỗ dựa vững chắc.

Cô độc sát – Ví dụ hình 1

Cô độc sát, Thiên trảm sát và Phá não sát rất giống nhau, điểm khác nhau ở chỗ: khoảng cách giữa hai tòa nhà đủ nhỏ, hơn nữa đối diện với nhà mình gọi là Thiên trảm sát, vết nứt của vật thể kiến trúc lệch về phía trên gọi là Phá não sát. Nếu khoảng cách khá lớn, hơn nữa vết nứt lệch xuống dưới, tức là sát này.

  1. CÔ PHONG SÁT:“tòa nhà rất cao nhưng không có chỗ dựa vững chắc”

Phía trước, sau, trái, phải của một tòa nhà cao lớn đều không có chỗ dựa vững chắc, xung quanh chỉ có vật thể kiến trúc thấp nhỏ. Đó được gọi là “ một tòa nhà cao ngạo mạn” “gió thổi vào đầu, con cháu sầu”

[ Nguy hại do hung sát]: người trong tòa nhà này dễ có cảm xúc không ổn định, không nhận được sự giúp đỡ của bạn bè, con trai con gái không hiếu thuận hoặc phải đi xa.

[ Phương pháp hóa giải ] : treo Sơn hải trấn trong phòng khách, hoặc dùng các vật trang trí bằng nước lưu động , hoặc đặt bể cá trong phòng.

Cô phong sát – Ví dụ hình 1

Tòa nhà phạm phải sát này càng cao, hoặc tòa nhà gần nó càng thấp thì tính nguy hại của sát này càng nặng.

Cô phong sát – Ví dụ hình 2

Cô phong sát có điểm giống Kiều sát, điểm khác nhau nằm ở chỗ: Tòa nhà thấp gần với tòa nhà đặc biệt cao phạm phải sát này chính là Kiều sát, mà bản thân tòa nhà cao đơn độc  này phạm phải sát chính là Cô phong sát.

  1. PHI NHẪN SÁT: “vật có hình lưỡi dao đi qua không gian

Vật thể kiến trúc có vật giống như lưỡi dao bay qua nó, ngôi nhà bị lưỡi dao này cắt đã phạm phải sát này.

Nguy hại do hung sát]: thành viên trong gia đình dễ xuất hiện các chứng đau hoặc chảy máu, cũng có thể dẫn đến phá tài, sự nghiệp gặp trở ngại.

Phương pháp hóa giải] : đặt một mặt gương đồng có mặt lồi bát quái đối diện với vị trí sát khí này, hoặc đặt vào đó một hồ lô đồng.

Phi nhẫn sát  – Ví dụ hình 1.

Tường bên này giống lưỡi dao cắt ngang ngôi nhà, nhưng không xuyên qua, vì thế tính nguy hại khá nhỏ.

Phi nhẫn sát – Ví dụ hình 2.

Ngôi nhà này giống như bị lưỡi kiếm xuyên thẳng qua, vì thế tính nguy hại khá lớn.

- Advertisement -

BÀI VIẾT KHÁC