32.7 C
Hanoi
Thứ Năm, 4 Tháng Sáu, 2026
spot_img
Trang chủ Blog Trang 15

83 LOẠI CÁCH CỤC SÁT VỚI PHONG THỦY NHÀ Ở – PHẦN II

0

83 LOẠI CÁCH CỤC SÁT VỚI PHONG THỦY NHÀ Ở – PHẦN II

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm

11.CHÂM SÁT : “ Ngôi nhà đối diện với các vật thể hình Kim

Bên ngoài cửa sổ của ngôi nhà có cột cờ, dây ăng ten và trạm phát sóng.

[ Nguy hại do hung sát ] : chủ nhà dễ cảm thấy khó chụi về mặt sức khỏe, ủy mị không phấn chấn, tinh thần mệt mỏi.

[ Phương pháp hóa giải ] : Treo hổ phù vào vị trí đối diện với sát khí này.

Châm sát – Ví dụ hình 1:

Tháp nhọn hình Kim gần kề với ngôi nhà, tức là đã phạm phải sát này

Châm sát – Ví dụ hình 2:

Khác với Thích sát được giới thiệu ở phần sau, Châm sát chỉ là riêng một Thích sát.

  1. QUANG SÁT: “Ánh  sáng phản chiếu quá mạnh

Quang sát cũng được gọi là ô nhiễm ánh sáng. Tường bằng thủy tinh của tòa nhà sau khi chụi sự chiếu sáng của ánh sáng phản xạ vào trong ngôi nhà của mình, đó chính là quang sát, có thể phân thành 2 loại là ánh sáng mặt trời và ánh đèn nê ông vào ban đêm. Ngoài ra, với những ngôi nhà ở bên bờ biển thì nước biển cũng là quang sát, vì ánh nắng mặt trời chiếu vào mặt nước cũng có thể làm cho ánh sáng hướng vào trong ngôi nhà bạn.

[Nguy hại do hung sát] : Khiến cho con người nóng nảy, không ổn định, sức kiên nhẫn kém, não trì trệ, tinh thần không tập trung.

[Phương pháp hóa giải]: Có thể dùng giấy nhám có keo dính thấu suốt dán lên kính nơi ánh nắng hay chiếu, đồng thời cố gắng đóng rèm cửa sổ lại. Ngoài ra cần treo 2 xâu hồ lô Minh chú vào hai bên trái và phải cửa sổ. Nếu bị phản quang mạnh nên treo thêm hai xâu tiền cổ Ngũ đế cùng với Bạch ngọc minh chú là có thể hóa giải được.

Quang sát – ví dụ hình 1:

Hiện nay rất nhiều tòa nhà dùng kính thủy tinh để thay thế tường, dẫn đến sự xuất hiện của sát này.

Quang sát – ví dụ hình 2:

Ví dụ của sát này có thể thay đổi theo thời gian, nếu xuất hiện trên vật thể có góc nhọn sẽ phạm phải Tiễn sát đã giới thiệu ở phần trước.

Quang sát – ví dụ hình 3:

Nếu ngôi nhà cách mặt hồ hoặc mặt biển phẳng lặng  rất gần, ánh nắng mặt trời vào buổi bình minh và hoàng hôn có thể hình thành nên ánh phản quang trên mặt nước, “ ô nhiễm ánh sáng rất nặng”.

Quang sát – ví dụ hình 4:

Nếu đèn đường và ánh điện phản xạ trên mặt nước quá sáng cũng phạm phải sát này.

Quang sát – ví dụ hình 5:

Nếu ánh đèn nê ông ở phía trước biển hiệu nhà hàng quá sáng cũng là ô nhiễm ánh sáng, phạm phải loại sát này.

  1. QUANG TIỄN SÁT: “quang sát + tiễn sát

Sát này là tổ hợp của Quang sát và Tiễn sát. Ngôi nhà đối diện giáp ranh của tòa nhà lớn hiện lên góc nhọn, hơn nữa còn có phản quang thủy tinh của tòa nhà, tức là đã phạm phải sát này.

[ Nguy hại do hung sát ]: Khiến cho con người nóng nảy, không ổn định, sức kiên nhẫn kém, phá tài, kiện tụng, công ty vỡ nợ, bệnh tật.

[ Phương pháp hóa giải]: Treo hổ phù trong phòng khách, đồng thời treo hai xâu hồ lô Minh chú vào hai góc trái phải của cửa sổ.

Quang tiễn sát – ví dụ hình 1:

Quang sát và tiễn sát vốn là hai sát độc lập, nhưng nếu xuất hiện đồng thời có thể làm tăng cường khí thế lẫn nhau, làm tăng gấp đôi tính nguy hại.

  1. ĐIỂU LUNG SÁT: “Đối diện với vật thể giống như lồng chim

Ngôi nhà đối diện với vật thể giống như lồng chim.

[ Nguy hại do hung sát ] :Chủ nhà không có chí tiến thủ, trong hoàn cảnh khó khăn không thể vượt lên hoàn cảnh, sống an phận

[ Phương pháp hóa giải] : Treo sơn hải trấn trong phòng khách, hoặc  dùng các vật trang trí bằng nước lưu động để tạo thêm khí sương mù.

Điểu lung sát – ví dụ :Các vật thể dạng lồng chim có thể mang đến cho con người cảm giác nhỏ hẹp, giam cầm. Thể tích của “ Lồng chim” càng lớn hoặc khoảng cách với nhà mình càng gần thì tính nguy hại càng nghiêm trọng.

  1. GÓC NHỌN XUNG XẠ:“Chụi sự xung xạ của vật thể có góc nhọn”.

Cửa sổ của ngôi nhà đối diện với vật thể kiến trúc có góc nhọn sắc, góc nhọn sẽ gây ra sự xung xạ rất mạnh, khoảng cách càng gần thì lực xung xạ càng mạnh.

[ Nguy hại do hung sát] : Có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của những người trong nhà, đối với các bệnh khó chữa mãn tính, đặc biệt là các bệnh mang tính đau nhức và xuất huyết sẽ dễ dẫn đến phát tác lặp đi lặp lại, hoặc dẫn đến các tổn thương như cơ thể nhức mỏi, bị thương vì dao….

[ Phương pháp hóa giải ]: Treo hổ phù và một xâu tiền lục đế ở cửa sổ để hóa giải. Cũng có thể dùng gương lồi Bát quái để hóa giải, nhưng trong một ngôi nhà chỉ được dùng không quá 3 gương lồi bát quái, nhiều hơn có thể khiến cho người bị thương.

Góc nhọn xung  xạ – ví dụ hình 1: Hai chân phía dưới của con cua này đối diện với kính thủy tinh của ngôi nhà, có thể làm cho người trong nhà phạm phải sát này.

Góc nhọn xung xạ – ví dụ hình 2 : Ngôi nhà đối diện với góc nhọn này đã phạm phải sát này. Tuy nhiên do góc nhọn này là góc tù, vì thế tính nguy hại là tương đối nhỏ.

Góc nhọn xung xạ – ví dụ hình 3: Góc nhọn này quay ngược về phía sau, chỉ vào tọa hướng nhà của mình, giống như binh sĩ đang “ quay súng lại bắn quân mình” trên chiến trường.

Góc nhọn xung xạ – ví dụ hình 4 : Nếu tiễn sát được giới thiệu ở phần trước lân cận với ngôi nhà của mình cũng có thể hình thành nên góc xung xạ.

Góc nhọn xung xạ – ví dụ hình 5 :Nếu thể tích của vật có góc nhọn vô cùng lớn, cho dù ngôi nhà cách nó khá xa thì vẫn có thể gây ra nguy hại.

83 LOẠI CÁCH CỤC SÁT VỚI PHONG THỦY NHÀ Ở – PHẦN I

0

83 LOẠI CÁCH CỤC SÁT VỚI PHONG THỦY NHÀ Ở – PHẦN I

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
PHẦN I

“ Sát”  chính  là loi hình phong thy  không cát, nó được phân thành  7  loi : Hình sát (sát có hình có th nhìn thy được),V sát ( mùi khí khó ngi),Quang sát ( ánh sát không đ hoc quá mnh ),Thanh sát ( tp âm ),Sc sát ( ô nhim màu sc ),T sát ( các loi t trường ),Lý sát ( sát ca lý khí : Như nh hc, ngũ hoàng ca phi tinh giao nhau, tam bích tht xích cùng gp nhau). Chương này ch yếu  gii thiu các loai phong thy sát

1.MINH ĐƯỜNG SÁT : “Mặt bên của tòa nhà cao tầng xung thẳng với cửa
Tại hướng chính diện phía trước của cửa nhà có mặt bên của tòa nhà xung thẳng qua, được gọi là Minh đường sát
[Nguy Hại do hung sát]  : dễ mắc bệnh ở đầu, nếu có tai nạn xe cộ hoặc  tai nạn chảy máu cũng đa phần xảy ra ở đầu
[Phương Pháp Hóa giải ]: Có thể treo gương bát quái bằng gỗ Đào đối diện với vị trí mặt bên của vật thể kiến trúc này,  cũng có thể đặt động Thạch Anh tím vào trong nhà, hoặc lắp thêm rèm cửa dày nặng. Nhưng vật kiến trúc cao lớn bên ngoài không dễ phá giải
Ghi chú : Động Thạch Anh tím : là một trong thất bảo của Phật giáo,ngoài tác dụng trang trí tăng tính thẩm mỹ còn có công năng cải thiện từ trường, giúp lưu thông không khí trong nhà, đem lại nhiều cát lợi may mắn.

Minh đường sát – Ví dụ hình 1
Nếu cắt thẳng nhưng tòa nhà có mặt bên cách ngôi nhà của mình khá xa thì nguy hại càng nhỏ
Minh đường sát – Ví dụ hình 2
Nếu cắt thẳng nhưng tòa nhà có mặt bên cách ngôi nhà của mình khá gần, thâm chí khoảng cách chỉ từ 3 đến 5 mét , hơn nữa mặt bên còn nằm ở trung tâm cửa sổ thì thường nguy hại rất lớn

2. THIÊN TRẢM SÁT  : “Đối diện với khe hở của hai tòa nhà
Ngôi nhà đối diện với khe hở nhỏ hẹp giữa hai tòa nhà cao tầng  giống như dùng  dao cắt tòa nhà thành hai nửa, mà miệng dao lại đối diện với nhà của mình. Sát này sẽ hình thành lên “ hiệu ứng đường ống”, dẫn đến tốc độ gió thổi qua khe hở  này nhanh hơn
[Nguy Hai Do Hung Sát ] : khoảng cách giữa sát này với ngôi nhà của mình càng gần thì nguy hại càng lớn. Chủ nhà nhiều bệnh, cơ thể yếu đuối, người nặng nề, thậm chí có thể gặp tai họa liên quan đến máu.
[Phương Pháp Hóa Giải]: Đối với thiên trảm sát của tòa nhà chọc trời, khoảng cách trong vòng 30m có thể đặt vào vị trí đối diện một đôi Hồ lô bằng đồng hình Bát quái hoặc một mặt kính lồi bằng đồng vàng để hóa giải. Nếu sát này đối diện với của chính phải lắp thêm Bình phong, mành trúc, nếu đối diện với sân thượng phải trồng cây leo để chắn sát

Thiên trảm sát : ví dụ hình 1: khe hở giữa hai ngôi nhà thấp nhỏ (ví dụ nóc nhà là tầng 2)thì nguy hại của sát này khá nhỏ

Thiên trảm sát –  ví dụ hình 2 :khe hở giữa hai tòa nhà càng nhỏ thì tính nguy hại của sát này càng lớn, độ cao của hai tòa nhà liền kề càng cao cũng tỷ lệ thuận với tính nguy hại của nó.

 3. PHÁCH ĐAO SÁT  : “Đối diện với vật thể có hình lưỡi dao
Là kiến trúc có tường giống như “dao chém” mà nhà ở lại đối diện với hình “ lưỡi dao chém” này. Nếu  vết  “dao chém” này có màu đỏ thì tính nguy hại càng lớn.
[Nguy hại do hung sát]:Chủ nhà nhiều bệnh, cơ thể yếu đuối, người nặng nề, có thể gặp tai nạn chảy máu.
[Phương pháp hóa giải]:Treo gương bát quái bằng gỗ Đào vào vị trí trung tâm của vật thể kiến trúc này. Nếu tình hình nghiêm trọng có thể mời Thầy Phong thủy đến hóa giải.

Phách đao sát –  ví dụ hình 1:
Nếu tòa nhà đối diện có vết nứt này, giống như bị lưỡi dao chém qua gọi là Phách đao sát, đồng thời có điểm giống với Thiên trảm sát.

Phách đao sát – ví dụ hình 2:
Nếu “lưỡi dao” của “phách đao” khá rộng thì tính nguy hại của sát này là tương đối nhỏ.

Phách đao sát ví dụ hình 3:
Nếu “ lưỡi dao” của “phách đao” khá hẹp thì tính nguy hại của sát này khá lớn

Phách đao sát – dụ hình 4
Nếu tường bên sắc nhọn của loại hình kiến trúc này  đối diện với nhà mình cũng gọi là Phách đao sát

4. THIÊN TRẢM PHÁCH ĐAO SÁT  : “hai mặt trong tòa nhà cắt mỏng
Trung tâm của tòa nhà giống như bị dao cắt ra, mà “lưỡi dao” này lại đối diện với nhà mình
[Nguy hại do hung sát]:Chủ nhà nhiều bệnh, cơ thể yếu mệt, người nặng nề, có thể gặp phải tai họa liên quan đến máu
[Phương pháp hóa giải]:Có thể treo gương bát quái bằng gỗ Đào vào vị trí trung tâm của vật thể kiến trúc này.

Thiên trảm phách đao sát – ví dụ  hình 1
Thiên trảm phách đao sát = thiên trảm sát+phách đao sát, cũng chính là  kết hợp đặc điểm của 2 loại sát này . Ở giữa  vật  kiến trúc  có khe hở, giống như  “ lưỡi dao” cắt ra, đồng thời, giáp ranh khe hở có tường bên giống như lưỡi dao. Nếu sát này đối diện với nhà ở thì nguy hại cực lớn.

5. ĐA TRONG PHÁCH ĐAO SÁT : “vết cắt thẳng của nhiều tường bên
Đối diện nhà ở có vết cắt ngang của từ hai mặt cắt bên trở lên
[Nguy hại do hung sát]:Chủ nhà nhiều bệnh, cơ thể yếu mệt, người nặng nề, có thể gặp tai họa liên quan máu
[Phương pháp hóa giải]: có thể treo gương Bát quái bằng gỗ Đào vào vị trí trung tâm của vật thể  kiến trúc này, hoặc treo Hổ phù  bằng gỗ Đào đã khai quang vào vị trí  cửa sổ đối diện với  vật thể  kiến trúc này.

Đa trọng phách đao sát – ví dụ hình 1 :
Giáp danh tòa nhà có hình chữ W, nếu ngôi nhà của bạn đồng thời  đối diện  với nhiều hơn 2 tường bên chữ W này, tức là đã phạm phải sát này.

Đa trọng phách đao sát  – ví dụ hình 2 :
Sát này là sự tổng hòa của mấy loại phách đao sát, vì thế tính nguy hại của nó nặng hơn nhiều so với 1 phách đao sát.

6.PHẢN CUNG SÁT : “lưng cong của hình cung hướng về phía ngôi nhà
Dòng sông, đường sá, cầu, cầu vượt bên ngoài nhà như hình cung hướng mặt vào ngôi nhà mình, tức là ngôi nhà nằm ở đường hình chữ U hoặc nằm  ở đoạn dưới của dòng sông. Căn cứ vào sự khác nhau của độ cong có thể phân thành 2 loại là Toàn phản cung và Bán phản cung. Toàn phản cung là hình cung đối diện với ngôi nhà, hình cung không hoàn toàn đối diện với ngôi nhà gọi là Bán phản cung.
[Nguy hại do hung sát ]: Đường  sá, dòng sông phản cung  có thể gây ra lực ly tâm, dẫn đến khí trường bị rối loạn, làm cho con người dễ bị phá tài, sinh bệnh. Toàn  phản cung sát có ảnh hưởng  rõ rệt nhất đối với con người, bán phản cung sát khá yếu.
[Phương pháp hóa giải ] :Treo gương Bát quái bằng gỗ Đào hoặc đặt Thái Sơn Thạch Cảm Đương vào vị trí đối diện  với sát khí.

Phản cung sát – ví dụ hình 1:
Tương tự là vị trí hình lồi của dòng sông hình chữ U  tòa nhà đối diện phạm phải sát này khá nghiêm trong, ngôi nhà chếch nghiêng có tính nguy hại nhỏ hơn

Phản cung sát –ví dụ hình 2 :
Phản cung của đường sá và phản cung của dòng sông giống nhau, hơn nữa còn là loại thường gặp.

7 KIỀU SÁT  : “Tòa nhà lân cận đặc biệt cao lớn
Nhà ở  rất gần với một công trình kiến trúc cao lớn hơn rất nhiều so với ngôi nhà
[Nguy hại do hung sát] :Dễ bị lừa gạt, cấp trên không trọng dụng, sự nghiệp khó có thành tựu
[Phương pháp hóa giải]:Đặt động Thạch Anh tím vào trong phòng khách để tụ khí, cũng có thể treo tranh vẽ  sơn thủy loại lớn

Kiều sát – ví dụ hình 1: Việc hình thành sát này  có một tiền đề  : đó là chỉ có một tòa nhà cao hơn hẳn so với các tòa nhà gần đó, như vậy các tòa nhà thấp gần đó đã phạm phải sát này.

Kiều sát –ví dụ hình 2
Nếu gần ngôi nhà thấp nhỏ có 2 tòa nhà rất cao thì tính nguy hại của sát này khá nhỏ.

Kiều sát – ví dụ hình 3:
Nếu tường bên của tòa nhà giống như “lưỡi dao” đối diện với mình  vậy thì sát này cũng kiêm luôn tính nguy hại của tiễn  sát được giới thiệu ở phần sau.

8PHÁ BẠI SÁT  : “đỉnh của nhà là góc nhọn
Đỉnh của ngôi nhà hiện lên hình tam giác với góc nhọn, được xem là kết cấu phá bại.
[Nguy hại do hung sát] :Sống trong ngôi nhà loại này dễ gây ra những điều thị phi, phá hoại,  tổn thất về tài sản, đa phần là không tốt. Đối diện với ngôi nhà loại này cũng không được cát lợi.
[Phương pháp hóa giải] :Treo gương bát quái bằng gỗ Đào  vào vị trí trung tâm của ngôi nhà, ngoài cửa trồng hàng cây trắc bá diệp

Phá bại sát – ví dụ hình 1
Nếu 2 ngôi nhà lân cận có đỉnh góc nhọn, ở giữa  có một khe hở thì sát này kiêm luôn cả tính nguy hại của Phách đao sát

Phá bại sát – ví dụ hình 2 :  Người sống trong ngôi nhà có đỉnh góc nhọn cũng phạm phải sát này

9. ÁP ĐỈNH SÁT :  ”Ngôi nhà đầu nặng chân nhẹ
Phía trên ngôi nhà có vật kiến trúc đè xuống, hình thành nên hiện tượng đầu nặng chân nhẹ
[Nguy hại do hung sát] :Chủ nhà phá tài, tình cảm thay đổi, sự nghiệp có nguy cơ lụn bại, lấy nhỏ đọ với lớn
[Phương pháp hóa giải] :Có thể đặt Thái Sơn Thạch cảm đương hoặc Sơn hải trấn vào trung tâm của ngôi nhà

Áp đỉnh sát –  ví dụ hình 1:Nếu phía trên ngôi nhà của mình có một khoảng không nhất định, mà phía trên nó còn có nhà, giống như vật nặng bao trùm lên đỉnh đầu của mình, mang lại cảm giác bị áp bức đè nén

Áp Đỉnh  sát – ví dụ hình 2:Phía trên cửa sổ có một loại sân phơi áp xuống, giống như lúc  nào cũng đều có thể gây ra tai họa ngập đầu

10. TIỄN SÁT : “tường bên đối diện với với hình góc nhọn
Ngôi nhà đối diện với tường bên của tòa nhà hiện lên hình góc nhọn
[Nguy hại do hung sát ] : Chủ nhà có thể bị phá tài, phiền phức, công ty vỡ nợ, bệnh tật
[Phương pháp hóa giải ]: Treo Hổ phù  bằng gỗ Đào vào phòng khách, cũng có thể đặt gương Bát quái đã khai quang  vào vị trí đối diện với vật thể kiến trúc này.
Tiễn sát- : Mặc dù tường bên của tòa nhà này hiện lên góc nhọn nhưng đoạn cuối của nó là hình cung,  cho dù đối diện với  nhà mình thì tính nguy hại cũng rất nhỏ

Tiễn sát – :Tòa nhà này có một nửa tường bên là góc nhọn, một nửa tường bên là góc tù, vì thế tính nguy hại giảm được một nửa
Tiễn sát – ví dụ hình 3 :Toàn bộ tường bên của tòa nhà này là góc nhọn, nếu ngôi nhà của bạn đối diện với góc này thì tính nguy hại là vô cùng lớn

Chính thần, linh thần

0

Chính thần, linh thần

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Chính thần là dùng nơi cao sơn của sao đương vận tức vượng khí của sơn mạch, mà thu nhận khí. Như vận 1 thì Nhất bạch là đương vận, nên lấy phương vị nhất (khảm) làm chính thần. Vận 2 thì Nhị hắc là đương vận, nênlấy phương vị Nhị (khôn) làm chính thần.….Nếu phương vị của chính thần mà có :Sông, hồ, biển,… thì khu vực đó (làng mạc hay khu dân cư,…)sẽ có nhiều hung họa. Như vậy phương của chính thần cần có sơn và không được có thủy, nếu có thì sẽ có nhiều tai họa trong vận đó.

Linh thần là phương đối lại của chính thần. Như vận 1 phương đối lại của chính thần là vị trí Cửu (ly) làm linh thần, vận 2 thì phương đối lại của chính thần là vị trí Bát (cấn) làm linh thần,…Riêng vận 5 có 20 năm, mà Nhị (Khôn) của Thượng nguyên và Bát (Cấn) của Hạ nguyên đều thuộc thổ, nên mười năm trước lấy Nhị (Khôn) làm chính thần và mưới năm sau lấy Bát (Cấn) làm chính thần
Phương vị của Chính Thần cần có cao sơn thực địa
Phương vị Linh Thần cần sông nước, trũng thấp


Coi về Chính thần, Linh thần là coi về vượng suy của một làng mạc hay thành phố
Thí dụ : vận 8, phương vị của Linh thần nằm ở phía TÂY NAM. Do đó, nếu khu vực đó của làng mạc hay đô thị… mà có sông, hoặc cửa biển… thì rất tốt, chủ vượng phát về mọi mặt. Ngược lại, nếu khu vực đó lại có thế núi hay thế đất tiến tới thì ngôi làng hay đô thị đó sẽ gặp nhiều tai biến, hung họa.

Còn về nhà ở thì lấy sơn tinh đương vượng làm Chính Thần và hướng tinh đương vượng làm Linh Thần. Phương Linh Thần nên có Thuỷ, thấp trũng hay đường đi. Đây gọi là:”Khơi thuỷ nhập Linh đường”. Nếu phương vị của Hướng tinh sinh, vượng khí lại vào vị trí của Linh thần đương vận mà có thuỷ , thấp trũng hay đường đi thì như: “Gấm thêm hoa” đã vượng càng thêm vượng. Còn Hướng tinh sinh vượng khí vào vị trí Chính thần của đương vận thì vẫn cần có thuỷ thì mới vượng phát được, còn gặp cao sơn thì vẫn suy như thường

Thành môn

0


Thành môn

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
ThaÌ€nh môn laÌ€ cửa ngỏ vaÌ€o khu đâÌt hay khu nhaÌ€. NhaÌ€ tuy hươÌng xâÌu nhưng nêÌu thaÌ€nh môn coÌ vượng khiÌ thiÌ€ vẫn tôÌt Ä‘eÌ£p một thời.
Khi hai bên của đầu hươÌng coÌ thuỷ(ao hồ…) hoặc cổng, ngõ vaÌ€o thiÌ€ goÌ£i nhaÌ€ Ä‘oÌ coÌ thaÌ€nh môn.

_ ThaÌ€nh môn chiÌnh : ở một hươÌng maÌ€ kêÌt hợp vÆ¡Ìi hươÌng chiÌnh(liền bên) thaÌ€nh một cặp sÃ´Ì của haÌ€ đồ ( sÃ´Ì tiên thiên: 1-6; 2-7; 3-8; 4-9) thiÌ€ goÌ£i laÌ€ thaÌ€nh môn chiÌnh.

_ ThaÌ€nh môn phuÌ£ : Ở một hươÌng maÌ€ khi kêÌt hợp vÆ¡Ìi hươÌng chiÌnh(liền bên) không thuộc caÌc cặp sÃ´Ì haÌ€ đồ thiÌ€ goÌ£i laÌ€ thaÌ€nh môn phuÌ£

ThiÌ duÌ£ : HươÌng chiÌnh laÌ€ BăÌc coÌ sÃ´Ì cửu tinh laÌ€ 1. Hai hươÌng bên caÌ£nh: đông băÌc vaÌ€ tây băÌc laÌ€ thaÌ€nh môn. Trong Ä‘oÌ tây băÌc coÌ sÃ´Ì cửu tinh laÌ€ 6 nên laÌ€ thaÌ€nh môn chiÌnh, đông băÌc coÌ sÃ´Ì cửu tinh laÌ€ 8 nên laÌ€ thaÌ€nh môn phuÌ£.


_ Thành môn ngầm:
• Khi an vận baÌ€n maÌ€ vận tinh 5 đêÌn 1 trong hai hươÌng bên caÌ£nh maÌ€ ở Ä‘oÌ coÌ ao hồ hay ngõ vaÌ€o thiÌ€ nÆ¡i Ä‘oÌ coÌ thaÌ€nh môn ngầm (thiÌ duÌ£: nhaÌ€ toaÌ£ mão hươÌng dậu, vận 8 khi an vận baÌ€n thiÌ€ 5 đêÌn tây nam. NêÌu nÆ¡i đây coÌ thuỷ hoặc ngõ vaÌ€o thiÌ€ tây nam coÌ thaÌ€nh môn)
• Khi các sÆ¡n hay hướng tinh tá»›i 2 phía bên cạnh đầu hướng, mà chúng lại kết hợp vá»›i Ä‘iÌ£a baÌ€n(sÃ´Ì cửu tinh taÌ£i cung hươÌng Ä‘oÌ , như hươÌng băÌc laÌ€ 1, hươÌng nam laÌ€ 9,…) tại nÆ¡i đó thành các số Tiên thiên. Nếu khu vá»±c đó có cổng, ngã ba, ao, hồ( khi laÌ€ hươÌng tinh), núi cao, cây cao(khi laÌ€ sÆ¡n tinh)… thì cÅ©ng được xem như có Thành môn.
* Khi Hướng tinh ở 1 trong hai bên kết hợp với hướng tinh ở đầu hướng thành 1 cặp số tiên thiên (1-6; 2-7; 3-8; 4-9) mà ở đó lại có thủy hay cổng, ngõ thì xem như có thành môn
Thí dụ: nhà tá»a CANH, hướng GIÃP (75 độ), nhập trạch trong vận 8. Nếu an Vận bàn thì vận tinh số 6 tá»›i hướng. Bây giá» nếu muốn an Hướng bàn thì lấy số 6 nhập trung cung xoay nghịch (vì hướng GIÃP tương ứng vá»›i sÆ¡n TUẤT cá»§a số 6, là sÆ¡n âm nên xoay nghịch – xin xem lại bài PHƯƠNG PHÃP LẬP TINH BÀN) thì số 3 đến ÄÔNG BẮC. Vì ÄÔNG BẮC nằm bên cạnh khu vá»±c đầu hướng cá»§a căn nhà, mà sÃ´Ì cửu tinh cá»§a đông băÌc là số 8, nên khi gặp hướng tinh số 3 tá»›i sẽ tạo thành cặp số Tiên thiên 3-8. Nếu nÆ¡i này có ao hÃ´Ì hay cổng, ngõ vào nhà thì được xem là có Thành môn.
ThaÌ€nh môn laÌ€ then chôÌt cho sự thiÌ£nh suy của ngôi nhaÌ€. Tuy hươÌng không vượng nhưng được thaÌ€nh môn coÌ vượng khiÌ thiÌ€ vẫn tôÌt Ä‘eÌ£p hay nhaÌ€ Ä‘ã được vượng khiÌ maÌ€ laÌ£i được thaÌ€nh môn thiÌ€ Ä‘ã vượng laÌ£i caÌ€ng vượng thêm. Tuy nhiên không phải cÆ°Ì hai bên đầu hươÌng coÌ thuỷ, cổng hay ngõ vaÌ€o laÌ€ Ä‘ã tôÌt maÌ€ phải coi coÌ Ä‘ÄƒÌc thaÌ€nh môn hay không.

CaÌch tiÌ€m thaÌ€nh môn
• XeÌt cung hươÌng chiÌnh thuộc tam nguyên long naÌ€o? Cung hươÌng của thaÌ€nh môn phải cuÌ€ng tam nguyên long vÆ¡Ìi đầu hươÌng
• ÄÆ°a vận tinh taÌ£i hươÌng Ä‘oÌ cho bay thuận hay nghiÌ£ch tuyÌ€ theo tiÌnh châÌt âm dương của tam nguyên long Ä‘oÌ.
• Xem vượng tinh coÌ tÆ¡Ìi hươÌng Ä‘oÌ hay không? NêÌu coÌ vượng tinh tÆ¡Ìi hươÌng thiÌ€ coÌ thể mở cổng, cửa ngõ vaÌ€o khu đâÌt hay để nươÌc ( phải laÌ€ nươÌc lÆ¡Ìn như ao, hồ,…)Cho duÌ€ hươÌng tinh ở Ä‘oÌ laÌ€ suy, tử thiÌ€ vẫn coÌ thể duÌ€ng không ngaÌ£i
Trong 3 loaÌ£i thaÌ€nh môn trên thiÌ€ thaÌ€nh môn chiÌnh laÌ€ coÌ taÌc duÌ£ng maÌ£nh nhâÌt thÆ°Ì Ä‘ÃªÌn laÌ€ thaÌ€nh môn phuÌ£. ThaÌ€nh môn ngầm tuy lực yêÌu hÆ¡n nhưng laÌ£i không phuÌ£ thuộc vaÌ€o một sÆ¡n như 2 thaÌ€nh môn kia maÌ€ bao truÌ€m hêÌt 3 sÆ¡n trong hươÌng Ä‘oÌ

ToÌm laÌ£i
TiÌ€m thaÌ€nh môn laÌ€ tiÌ€m caÌch mở cổng, ngõ hay nÆ¡i coÌ thuỷ bên ngoaÌ€i nhaÌ€
Cách tính Thành Môn đơn giản chỉ là:
1/ Hướng có Thành Môn phải cùng 1 Thiên, Äịa hoặc Nhân nguyên long vá»›i toạ, hướng cá»§a căn nhà (hoặc ngôi má»™).
2/ Hướng cá»§a vận tinh tá»›i Thành Môn là sÆ¡n âm, xoay nghịch thì Thành Môn sẽ đắc vượng khí và dùng được. Nếu là sÆ¡n dương, xoay thuận thì chỉ gặp toàn khí suy, tá»­ tá»›i Thành môn nên không thể dùng. 3/Nếu khí Thành môn vượng thì dù hướng tinh ở nÆ¡i đó có là suy , tá»­ cÅ©ng nên đặt nước. Tuy nhiên, nếu đã đặt thì nước phải lá»›n má»›i có taÌc duÌ£ng. Hay nÆ¡i khí thành môn vượng mà có ngã ba, ngã tư thì rất tốt.
4/ Nếu khí thành môn đến cung không đồng ngyuên với hướng thì chỉ tốt trong vận đó mà thôi

“Thành môn quyết”
Phép mở cá»­a dùng “thành môn quyếtâ€Â ÄôÌi vÆ¡Ìi những nhaÌ€ ở hoặc cÆ¡ sở kinh doanh coÌ hươÌng biÌ£ kiêm hươÌng, hươÌng không coÌ vượng khiÌ tÆ¡Ìi hươÌng hoặc coÌ vượng khiÌ tÆ¡Ìi hươÌng nhưng muôÌn mở thêm cửa phuÌ£ taÌ£i những cung coÌ hươÌng tinh laÌ€ sinh, tiêÌn khiÌ thiÌ€ ta cần duÌ€ng “thaÌ€nh môn quyết†còn gá»i là “bí quyết thành môn” để mở cửa.Äiều cần lưu yÌ laÌ€ khi duÌ€ng “ thaÌ€nh môn quyếtâ€Ä‘ể mở cửa phuÌ£ laÌ€ vâÌn đề hoaÌ€ hợp âm dương. ThiÌ duÌ£: cửa chiÌnh taÌ£i sÆ¡n dương thiÌ€ cửa phuÌ£ taÌ£i sÆ¡n âm vaÌ€ ngược laÌ£i. CoÌ như thÃªÌ thiÌ€ mÆ¡Ìi được lâu daÌ€i, bằng không thiÌ chỉ được luÌc đầu maÌ€ thôi.
Ngoài ra còn má»™t số trưá»ng hợp sau:

1)_ NhaÌ€ biÌ£ kiêm hươÌng hoặc hươÌng không coÌ vượng khiÌ. ThiÌ duÌ£: nhaÌ€ GIAÌP hươÌng CANH vận 8. Khi an hươÌng baÌ€n thiÌ€ tử khiÌ tam biÌch(3) tÆ¡Ìi hươÌng. NêÌu mở cửa taÌ£i CANH thiÌ€ gặp tử khiÌ. Nay duÌ€ng biÌ quyêÌt thaÌ€nh môn xeÌt cung DẬU: Vận tinh 1 nhập trung cung, DẬU laÌ€ thiên nguyên, thiên nguyên của 1 laÌ€ TYÌ, TYÌ tiÌnh châÌt laÌ€ âm nên 1 Ä‘i nghiÌ£ch, vượng khiÌ 8 tÆ¡Ìi DẬU. Vậy nêÌu mở cửa taÌ£i dậu thiÌ€ sẽ coÌ vượng khiÌ tÆ¡Ìi cửa. Äiều naÌ€y sẽ laÌ€m vượng những nhaÌ€ coÌ hươÌng không vượng hoặc biÌ£ kiêm hươÌng. Cần lưu yÌ cửa chỉ để troÌ£n trong cung Ä‘oÌ maÌ€ thôi, không nên cho lâÌn qua cung khaÌc viÌ€ luÌc Ä‘oÌ Ã¢m dương lẫn lộn maÌ€ mâÌt Ä‘i caÌi tôÌt Ä‘eÌ£p.
2)_ NhaÌ€ qua vận sau không coÌ€n vượng khiÌ. ThiÌ duÌ£: NhaÌ€ TUẤT hươÌng THÃŒN vận 7 coÌ cửa taÌ£i TUẤT được vượng sÆ¡n vượng hươÌng, nay qua vận 8 thiÌ€ 7 trở thaÌ€nh thoaÌi khi. NêÌu coÌ Ä‘Ã´Ì‰i vận thiÌ€ cũng không tôÌt Ä‘eÌ£p viÌ€ tinh baÌ€n vận 8 tử khiÌ 6 tÆ¡Ìi hươÌng. Nay không duÌ€ng cửa taÌ£i THIÌ€N nữa maÌ€ mở cửa khaÌc taÌ£i TÔÌN (hoặc TYÌ£), duÌ€ng biÌ quyêÌt thaÌ€nh môn vÆ¡Ìi vận baÌ€n 8 nhập trung cung, vận tinh taÌ£i TÔÌN laÌ€ 7, TÔÌN laÌ€ thiên nguyên, thiên nguyên của 7 laÌ€ ÄOAÌ€I, ÄOAÌ€I âm nên 7 Ä‘i nghiÌ£ch, vượng khiÌ 8 tÆ¡Ìi TÔÌN
3)- Nhà có hướng tinh là sinh vượng khí nhưng mở cá»­a không đúng cách thì cÅ©ng không nhận được vượng khí vào nhà mà làm ăn suy bại. Thí dụ: nhà tá»a Càn hướng Tốn. Thay vì mở cá»­a ở Tốn hay Tị, nay lại mở ở Thìn. Xét cung Äông Nam vận 8 có vận tinh 7. Thìn là địa nguyên long, Äịa nguyên long cá»§a thất xích là Canh. Canh dương nên Ä‘i thuận thì tá»­ khí lục bạch đến cung Thìn. Vậy nhà không nhận được vượng khí.

4)- Nhà Tuy không được vượng khí đến hướng nhưng nếu mở cá»­a có khí thành môn thì vẫn không đến ná»—i suy bại. Thí dụ nhà tá»a Thìn hướng Tuất vận 8. bị Thướng sÆ¡n hà thá»§y, có hướng tinh 1 đến hướng. 1 tuy là tiến khí nhưng còn xa. Nếu mở cá»­a tại cung Càn hoặc Hợi thì vẫn tốt đẹp má»™t thá»i.

5)_ NhaÌ€ Ä‘ả được cửa coÌ vượng khiÌ nay muôÌn mở thêm cửa phuÌ£ taÌ£i hươÌng coÌ hươÌng tinh laÌ€ sinh hoặc tiêÌn khiÌ. ThiÌ duÌ£: NhaÌ€ SỬU hươÌng MUÌ€I vận 8. Tinh baÌ€n coÌ vượng tinh 8 tÆ¡Ìi hươÌng, sao sinh khiÌ 9 tÆ¡Ìi hươÌng BÄ‚ÌC. Nay muôÌn mở cửa taÌ£i BÄ‚ÌC ta aÌp duÌ£ng biÌ quyêÌt thaÌ€nh môn. MUÌ€I thuộc Ä‘iÌ£a nguyên long, Ä‘iÌ£a nguyên long taÌ£i hươÌng BÄ‚ÌC laÌ€ NHÂM. Vận tinh taÌ£i BÄ‚ÌC laÌ€ 4, lâÌy 4 nhập trung cung bay nghiÌ£ch (Ä‘iÌ£a nguyên long của 4 laÌ€ THIÌ€N, tiÌnh châÌt của THIÌ€N laÌ€ âm) vượng khiÌ 8 tÆ¡Ìi NHÂM. Äể yÌ ta thâÌy tiÌnh châÌt của MUÌ€I laÌ€ âm vaÌ€ tiÌnh châÌt của NHÂM laÌ€ dương.

Otro hecho increíble que los científicos descubran durante este estudio: la vida sexual en un par sigue siendo brillante, incluso a pesar de la larga historia de farmaciaesp24.com relaciones conjuntas. (VERDADERO, también conocemos otro estudio que fue aún más lejos y demostró que la relación más antigua, la más feliz que consiste en individuos humanos.)

“Thành môn quyết”
Äể tìm cung có vượng khí trong nhà hầu đặt bếp hoặc đặt thá»§y kích tài, Ta cÅ©ng cần dùng “bí quyết thành môn”.

Trong vận 8 này các cung có vượng khí theo “thành môn quyết” là:
– Hướng Nam: Ngá», Äinh
– Hướng Tây Nam: Mùi
– Hướng Tây: Dậu, Tân
– Hướng Tây Bắc: Càn, Hợi
– Hướng Bắc: Nhâm
– Hướng Äông Bắc: Sá»­u
– Hướng Äông: Giáp
– Hướng Äông Nam: Tốn, Tị
Thí dụ: Nhà Nhâm hướng Bính vận 8. Cung Äông Bắc có (1-6), nay muốn đặt nước kích tài thì cung đặt nước có tác dụng mạnh nhất là trong cung Sá»­u. Hướng Bắc có cặp (8-8), nay muốn đặt bếp thì vị trí tốt nhất là cung Nhâm. Äối vá»›i các vật khí khác cÅ©ng vậy…

Thướng Sơn, Hạ Thủy

0

Thướng Sơn, Hạ Thủy

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
“Thanh nang Tự” viết: “Long thần trên núi không được xuống nước, Long thần dưới nước không được lên núi”. Đây là 1 nguyên lý trọng yếu của Huyền Không, hay như Thẩm trúc Nhưng nói là “then chốt của cát, hung, họa, phúc”.

Như chúng ta đã biết “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không những chỉ nói về “Núi”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Sơn bàn (tức Sơn tinh). Cũng như chữ “Thủy” ở đây không những chỉ nói về “Nước”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Hướng bàn (tức Hướng tinh). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, Hướng tinh chủ về tài lộc. Chính vì thế nên khí sinh, vượng của Sơn tinh cần đóng tại những nơi có núi hay gò đất cao, hay những nơi có nhà cửa, cây cối cao lớn. Như thế là những cách cuộc Sơn tinh đắc cách, chủ người trong nhà tài giỏi, đông đúc, thành công sớm, tên tuổi vang dội… Còn khí sinh, vượng của Hướng tinh thì cần đóng tại những nơi có sông, hồ, ao, biển, đường rộng, ngã ba, ngã tư hay cửa ra vào… Đó là những cách cuộc Hướng tinh đắc “Thủy”, nên tài lộc của gia đình sẽ không bao giờ thiếu, công việc làm ăn ổn định…

Ngược lại, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Sơn tinh lại không có núi hay nhà cao, cây cao, nhưng lại có Thủy của sông, hồ, ao, biển, hoặc là những vùng thấp, trũng… thì sẽ chủ gia đình ly tán, cô quả, tuyệt tự hoặc yểu chiết… Cho nên mới nói “Long thần trên núi không được xuống nước”. Chữ “Long thần trên núi” thực ra là để ám chỉ Sơn tinh. Sơn tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi thấp, trũng hoặc có nước (hạ thủy), kẻo nếu không thì sẽ có tai họa cho nhân đinh.

Tương tự như thế, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Hướng tinh lại không có Thủy của sông, hồ, ao, biển, đường đi hoặc cửa ra vào…, nhưng lại có núi hay nhà cao, cây cao thì sẽ chủ tài lộc khó khăn, công việc làm ăn lụn bại, gia cảnh lầm than, sa sút. Cho nên mới nói “Long thần dưới nước không được lên núi”. Chữ “Long thần dưới nước” là để ám chỉ Hướng tinh. Hướng tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi cao ráo hoặc có núi đồi (thượng sơn), kẻo nếu không sẽ có tai họa về tiền bạc. Đây chính là cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy” trong Huyền không học.

Thí dụ: nhà tọa Sửu hướng Mùi, nhập trạch trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy tinh bàn của căn nhà như sau:


Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy các khu vực TÂY, TÂY BẮC và ĐÔNG BẮC của căn nhà này có các số 9, 1, và 8, tức là những sinh, vượng khí của Sơn tinh (so với đương vận, tức vận 8). Nếu những khu vực này chỉ toàn là sông, hồ, hoặc đường đi, chứ không có núi hay nhà cao thì nhà này đã phạm cuộc “Hạ thủy”, chủ nhân đinh suy bại. Sau đó, lại xét về Hướng tinh, ta thấy các khu vực phía BẮC, NAM và TÂY NAM có các số 9, 1 và 8, tức là những sinh, vượng khí của Hướng tinh trong vận 8. Nếu những khu vực này không có Thủy, mà lại có núi đồi hay nhà cao, cây cao, thì căn nhà này còn phạm thêm cuộc “Thượng sơn”, chủ suy bại cả về tài lộc nữa.

Cũng tương tự như những trường hợp “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”) là trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường cho những nhà có vượng tinh của Hướng đến tọa, vượng tinh của Sơn đến hướng là thuộc cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy”, và gọi những nhà lập trạch vận theo những hướng đó là những nhà có “Hỏa Khanh tuyến” (tức hướng xấu hay bần tiện). Nhưng trên thực tế thì còn phải tùy thuộc vào bối cảnh Loan đầu bên ngoài của căn nhà đó như thế nào rồi mới có thể kết luận là nhà đó có bị “Thượng sơn, Hạ thủy” hay không được.

Thí dụ: nhà tọa Khôn hướng Cấn, xây và vào ở (nhập trạch) trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì tinh bàn căn nhà sẽ như sau:

Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy khu vực ĐÔNG BẮC có Sơn tinh 8, tức là vượng khí của Sơn tinh tới hướng, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Hạ thủy” (vì vượng tinh của Sơn tới hướng (phía trước nhà). Nhưng nếu khu vực này không có sông, hồ, ao, biển, mà lại có núi đồi hay nhà cao, thì vượng khí của Sơn tinh nhà này đã đắc cách, tức là đóng tại chỗ có cao sơn thực địa, cho nên trong nhà nhân đinh vẫn đông đúc, chứ không bị suy bại. Sau đó lại xét tới Hướng tinh, ta thấy khu vực phía TÂY NAM có Hướng tinh 8, tức là vượng khí của Hướng tinh tới phương tọa, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Thượng sơn”. Nhưng nếu khu vực này không có núi, đồi hoặc nhà cao, mà lại có Thủy hoặc đường đi, cửa ra vào… thì vượng khí của Hướng tinh nhà này vẫn đắc cách, tức là đóng tại chỗ có Thủy nên tiền của, tài lộc của gia đình này vẫn dồi dào, sung túc.

Cho nên điều quan trọng là phải phối hợp phương vị của phi tinh với địa hình bên ngoài thì mới có thể xác quyết được chính xác mọi trường hợp tốt, xấu, chứ không thể mới nhìn thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía trước, vượng tinh của Sơn tới phía sau mà đã vội cho là căn nhà tốt. Hoặc mới thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía sau, vượng tinh của Sơn tới phía trước mà đã vội cho là căn nhà xấu thì sẽ dẫn tới những sai lầm đáng tiếc.

Một điểm cần chú ý khác là tuy Sơn tinh cai quản về nhân đinh, và cần đóng tại những chỗ cao sơn thực địa, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Sơn tinh mới nên gặp núi đồi hoặc nhà cao mà thôi. Còn những khí suy, tử của Sơn tinh thì lại không nên đóng ở những nơi đó, mà chỉ nên đóng ở những chỗ bằng phẳng hoặc có Thủy mà thôi. Nếu chẳng may mà nhà lại có khí suy, tử của Sơn tinh đóng tại những chỗ cao hoặc núi đồi thì sẽ gặp tai họa do những đối tượng đó gây ra. Thí dụ như hiện tại đang trong vận 8, nên nếu 1 nhà có sơn tinh Thất xích (số 7) đóng tại khu vực có núi hay nhà nhà cao chót vót thì sẽ bị tai họa do Sơn tinh Thất xích mang tới. Vì Thất xích là biểu tượng của kẻ tiểu nhân hay giặc cướp, nên nhà này sẽ thường xuyên bị bọn trộm cướp tới phá phách, hoặc ra ngoài bị kẻ tiểu nhân tìm cách hãm hại…

Tương tự như thế, đối với Hướng tinh tuy cai quản về tài lộc, và cần đóng tại những chỗ thấp trũng hoặc có thủy, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Hướng tinh mới cần thỏa mãn điều kiện này mà thôi. Còn đối với những suy, tử khí của Hướng tinh nếu gặp Thủy sẽ chủ gây ra những tổn thất về tiền bạc, hoặc những bệnh tật, tai họa, tùy theo tính chất của Hướng tinh đó như thế nào.

Lấy thí dụ như 1 nhà trong vận 8, có hướng tinh Nhị hắc gặp thủy, cho nên nhà này vừa bị hao tiền, vừa thêm bệnh tật nhiều, nhất là về tỳ vị, sảy thai, hỏa hoạn, hình ngục, tai nạn xe cộ. Trong nhà dễ có quả phụ hoặc ni cô…

Cho nên đối với những Hướng tinh là khí suy, tử thì lại nên đóng ở những chỗ cao ráo hoặc yên tĩnh. Có như thế thì mới tránh nỗi họa mà thôi. Còn nếu như khí suy, tử của Sơn tinh mà còn đóng ở những nơi có núi hay nhà cao, khí suy tử của Hướng tinh đóng ở những nơi có thủy hoặc cửa nẻo ra vào nhà thì tức là cảnh “HUNG TINH ĐẮC CÁCH”, tai họa còn khủng khiếp hơn là cách cục “thượng Sơn, Hạ Thủy” nữa.

Nói tóm lại thì sinh, vượng khí của Sơn tinh phải đóng ở những chỗ cao ráo, còn sinh, vượng khí của Hướng tinh cần gặp thủy. Nếu được như thế là nhà có phúc, có lộc, còn nếu ngược lại là cảnh bần tiện, nghèo hèn. Cho nên người học Huyền không phải dựa vào những tiêu chuẩn này mà chọn phương lập hướng cho đúng, tức là phải kiếm cho được những nhà đắc “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”), và phải xa lánh những nhà có cách cuộc “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mới được. Ngoài ra cũng cần phải để ý, không bao giờ để cho những khí suy, tử của Sơn, Hướng tinh có thể trở thành “Hung tinh đắc cách” mà gieo rắc tai họa cho người ở trong nhà được.

Ngũ Quỷ Vận Tài Bí Pháp

0

Ngũ Quỷ Vận Tài Bí Pháp

Ngũ Quỷ Vận Tài bí pháp, là một cách cục trong Phong thủy, trong đó lợi dụng sự bài bố của Cửu tinh để đem lại tài vận một cách nhanh chóng. Trong phong thủy còn gọi là cách “cứu bần”, tức có thể tức thời làm cho người ta có được tiền tài. Tuy nhiên, tài vật trên đời vốn dĩ có căn nguyên, chớ thấy lợi trước mắt mà ham, khi áp dụng nên cẩn trọng.

Tôi viết lại phép này, để mọi người tham khảo, lấy cơ sở nghiên cứu thêm vì trong sách vở thì cũng có nhắc đến, nhưng hầu như chưa được đầy đủ. Nhất là phần “Phụ tinh thủy pháp phối quái” là phép của Thủy long, vốn khác với phép của Sơn. Khi đọc nên tường tận.

NGŨ QUỶ VẬN TÀI ĐỊNH CỤC

“Ngũ Quỷ vận tài phong thủy cục”, có nguồn cơn từ Cửu tinh pháp, còn được gọi là Thiên tinh pháp. Liên quan đến CỬU TINH, Cửu tinh tức là 9 sao trong hệ Bắc đẩu, gồm :

Tham lang (Thiên khu)
Cự môn (Thiên tuyền)
Lộc tồn (Thiên Cơ)
Văn khúc (Thiên quyền)
Liêm trinh (Ngọc hoành
Vũ khúc (Khai dương)
Phá quân (Dao quang)
Tả phụ (Động minh)
Hữu bật (Ẩn quang)

Cửu tinh – tại Thiên thì là Tượng, tại Địa thì là Hình. Cho nên TRÊN mà xem Thiên tượng, thì có thể biết được sự biến hóa của trời đất. DƯỚI mà biện địa hình, có thể biết được giầu nghèo họa phúc của nhân gian. BIỆN địa hình, chính là chí về môn Phong thủy.

Nói về Ngũ Quỷ vận tài, tức là nói đến Lý luận Long, Hướng, Thủy của Cửu Tinh pháp. Trong phép này thì hai sao Phụ-Bật hợp lại thành một, gọi là Phụ tinh. Nếu vận dụng được phép này, thì có thể làm cho người ta phát cự phú nhất thời. Địa lý của tự nhiên, phải được phối hợp với con người trong tự nhiên, mới có thể bổ trợ cho nhau, khiến cho người ta giầu có.

Khẩu quyết của Ngũ Quỷ Vận Tài : “ Sơn long Liêm Trinh hữu Hướng, Thủy long Cự Môn kiến Thủy”

Giải thích về khẩu quyết này, thì Ngũ Quỷ tức là chỉ Liêm trinh (Trong Cửu tinh, Liêm trinh thuộc Ngũ Quỷ). Tài tức là chỉ về Thủy (trong Phong thủy, Thủy chủ tài). Nhờ có Thủy mà phát tài.

Ngũ Quỷ Vận Tài : Tọa là SƠN LONG, Hướng là THỦY LONG. Ngoài địa hình Sơn long và Thủy long đều lập được một quẻ theo phép thông thường. Dựa vào Tịnh Âm, Tịnh Dương cùng với Nguyên lý nạp giáp của 24 sơn. Lập Sơn Long trên phương vị Liêm Trinh, trên phương vị Cự môn có Thủy, tức là Ngũ Quỷ Vận Tài. Trong Dương trạch, Khai môn, hoặc đặt cửa sổ, hoặc vị trí nạp khí vào phương vị Liêm Trinh, làm sao cho phương vị Cự Môn có Thủy thì tức là Ngũ Quỷ Vận Tài.

Cửu tinh phối với Bát Trạch :

Phụ tinh — phục vị
Tham lang — sinh khí
Cự môn — thiên y
Lộc tồn — họa hại
Văn khúc — lục sát
Liêm trinh — ngũ quỷ
Vũ khúc — diên niên
Phá quân — tuyệt mệnh

Phần trên là nói về thuật Ngũ Quỷ Vận Tài, cụ thể sẽ tham khảo dưới đây :

I. CƠ SỞ :

+ Bát quái nạp giáp : phép này chỉ dùng “tam hào quái nạp giáp” (khác với phép Hỗn thiên nạp giáp):
+ Tịnh âm, tịnh dương : Là Âm Dương của 24 sơn hướng theo Tam hợp (khác với Âm Dương của Huyền không).
+ Phép biến hào của Sơn Long:

Phép này lấy Tọa sơn lập quái, dùng phép biến quái để bài bố cửu tinh, còn gọi là “bài long pháp”. Phép này, láy 3 hào trong quẻ để tiến hành biến hào, Hào biến thì Quẻ sẽ biến theo. Quẻ sau khi biến ra, lại phối hợp với phép nạp giáp để bài bố cửu tinh. (biến hào là từ hào dương đổi thành hào âm và ngược lại).

  • Trình tự biến hào : biến các hào theo thứ tự từ : Thượng – Trung – Hạ – Trung – Thượng – Trung – Hạ – Trung.
  • Cửu tinh thì bày bố thuận theo thứ tự : Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Phụ Bật.

+ Phép biến hào của Thủy Long:

Bởi vì phép này lại lấy Hướng để lập quẻ khởi Phụ tinh, nên còn được gọi là “Phụ tinh thủy pháp phối quái”. Cũng như Sơn long, phép này lấy hướng để lập quẻ khởi Phụ tinh, theo thứ tự mà biến hào, hào biến thì quẻ biến, sau đó lại đem phối với Cửu tinh.

  • Trình tự biến hào, thuận theo thứ tự : Trung-Sơ-Trung-Thượng-Trung-Sơ-Trung.
  • Cửu tinh bài bố thuận theo thứ tự : Phụ Bật, Vũ Khúc, Phá Quân, Liêm Trinh, Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc.

II. TÁC PHÁP CỤ THỂ VÀ VÍ DỤ ỨNG DỤNG:

  1. Tác pháp (cách làm) :

+ Sơn long là Liêm trinh làm hướng

  • Lấy Tọa sơn để lập quẻ (tọa sơn gọi là Sơn Long)
  • Dùng phép “bài long biến hào phiên quái” (đã trình bày ở trên) để bày bố Cửu tinh.
  • Dựa vào “tịnh âm, tịnh dương” cùng với nguyên lý “Nạp giáp tam hào” để nạp cho 24 sơn
  • Tìm xem Liêm Trinh ở đâu, lấy đó để làm Khí Khẩu, hoặc Thủy Khẩu. Có thể khai môn hoặc đặt cửa sổ 2 cánh để nạp khí, gọi là “thu sơn xuất sát” (trong Âm trạch thì lập Hướng Liêm Trinh).

+ Thủy long là Cự môn thấy Thủy :

  • Theo trên lập quẻ (Hướng Sơn gọi là Thủy long)
  • Dùng phép “Thủy long biến hào phiên quái” (đã trình bày ở trên) để bày bố Cửu tinh.
  • Dựa vào phép nêu trên để nạp vào 24 sơn.
  • Tìm xem Cự môn ở đâu, lấy vị trí của Cự môn này để mà bố trí Thủy lai.

Như trình bày ở trên tức là phép “Ngũ quỷ vận tài” của Phong thủy.

  1. Ví dụ ứng dụng : Ví dụ cho trường hợp sơn Tân, hướng Ất (tọa Tân hướng Ất)

+ Sơn long là Liêm trinh :

  • Tọa sơn tức là Sơn long, lấy để lập quẻ, được chữ Tân, mà Tốn thì nạp Tân (phép nạp giáp), nên lấy Tốn để lập quẻ.
  • Sơn long biến hào phiên quái, quẻ Tốn biến như sau :
Khảm->Khôn->Chấn->Đoài->Càn->Ly->Cấn->Tốn
Tham->Cự->Lộc->Văn->Liêm->Vũ->Phá->Phụ
  • Đem nạp vào 24 sơn
  • Tìm phương của Liêm Trinh, Liêm trinh tại Càn, Càn lại nạp Giáp, nên Liêm trinh ở phương vị Càn và Giáp.
  • Đối với Âm trạch lấy Liêm trinh làm hướng, Đối với Dương trạch thì lấy phương Càn, phương Giáp để khai môn hoặc bố trí cửa số.

+ Thủy long là Cự môn thấy Thủy :

  • Hướng sơn là Thủy Long, lấy hướng lập quẻ. Được hướng Ất, mà Khôn thì nạp Ất, nên lấy Khôn để lập quẻ.
  • Dùng phép “thủy long biến hào phiên quái” để bài bố Cửu tinh. Như sau :
Khôn->Khảm->Đoài->Chấn->Ly->Càn->Tốn->Cấn
Phụ->Vũ->Phá->Liêm->Tham->Cự->Lôc->Văn
  • Đem nạp vào 24 Sơn
  • Tìm xem phương vị Cự môn ở đâu : Cự môn tại phương Càn, mà Càn nạp Giáp nên Cự môn ở hai phương Càn, Giáp.

Nếu thấy hai phương này mà có Thủy thì là đắc phép “Ngũ quỷ vận tài”.
Trên là ví dụ cho Phép “Ngũ quỷ vận tài” ứng dụng của Phong Thủy. Các trường hợp khác thì phỏng theo đó mà làm.

III. NGŨ QUỶ VẬN TÀI LONG-HƯỚNG THỦY PHÁP:

  • Căn cứ vào lý luận trên, cổ nhân lập hướng thủy pháp như sau :
  • Khôn long, lập Chấn Canh Hợi Mùi hướng, là “ngũ quỷ lâm môn”, được Tốn Tân thủy hay môn lộ, là “đới cự môn tài lai”
  • Tốn long, lập Càn Giáp hướng, là “ngũ quỷ lâm môn”, khai Khôn Ất môn lộ, là “đới cự môn tài lai”
  • Ly long, lập Cấn Bính hướng, là “ngũ quỷ lâm môn”, khai Đoài Đinh Tỵ môn lộ, là “đới cự môn tài lai”
  • Đoài long, lập Khảm Quý Thân Thìn hướng, là “ngũ quỷ lâm môn”, khai Ly Nhâm Dần Tuất môn lộ, là “đới cự môn tài lai”
  • Cấn long, lập Ly Nhâm Dần Tuất hướng, là “ngũ quỷ lâm môn”, khai Khảm Quý Thân Thìn môn lộ, là “đới cự môn tài lai”
  • Khảm long, lập Đoài Đinh dĩ xú hướng, vi ngũ quỷ lâm môn, khai cấn bính môn lộ, là “đới cự môn tài lai”
  • Chấn long, lập Khôn Ất hướng, là “ngũ quỷ lâm môn”, được Càn Giáp thủy hay môn lộ, là “đới cự môn tài lai”
  • Càn long, lập Tốn hướng, là “ngũ quỷ lâm môn”, được Chấn Canh Hợi Mùi thủy hay môn lộ, là “cự môn đái tài lai”.

Ngoài ra, Lý khí còn dùng số Lạc thư Tiên thiên bát quái, tương đối rõ ràng.

  • Số 2 – Tốn là Hướng với số 9- Càn là “Lai long Lục hợp” Liêm trinh, Ngũ Quỷ, Thái dương.
  • Số 2- Tốn là Hướng với số 8 – Chấn là “Môn lộ hợp thập” Cự môn, Cự môn vốn chủ Tài, tài đến với mình, như cứu bần (cứu khỏi nghèo túng), nên gọi là Ngũ Quỷ Vận Tài vậy

Quái Lý Của Phái Bát Trạch

0

Khám Phá Quái Lý Của Phái Bát Trạch Phong Thủy

Trong thuật Kham Dư Địa Lý của Trung Quốc, đối với sự kết hợp tốt xấu của nhà ở, lý luận của phái Bát Trạch có chỗ đứng rất quan trọng, các tác phẩm kinh điển của môn phái này như “Dương Trạch Tam Yếu” , “Bát Trạch Chu Thư” , “Bát Trạch Minh Kính” ( “Bát Trạch Minh Kính” được dịch giả Thái Kim Oanh dịch ở Việt Nam với cái tên là “Bát Trạch Minh Cảnh” ) do các tác giả thời xưa viết vẫn được lưu hành rộng rãi và đều được các nhà nghiên cứu hiện nay lấy nó làm căn cứ.

Cần nhắc lại một lần nữa nguyên tắc chủ yếu là lấy phương vị hậu thiên bát quái để đoán định, tuy nhiên thực tế là Lý Luận Bát Trạch lại xuất phát từ Tiên Thiên Bát Quái. Nó dựa trên quy luật của sự âm dương phối hợp, giao cấu, sinh thành. .


1. Sự phối hợp của Đông, Tây tứ trạch phù hợp với quy luật tương sinh của Ngũ Hành :
Theo Bát Quái Tiên Thiên phối hợp với lạc thư ta sẽ thấy :
Tây tứ trạch Càn Khôn Cấn Đoài trong Lạc thư có số là : 9, 1, 6, 4
Đông tứ trạch Khảm Ly Chấn Tốn trong Lạc Thư có số là : 7, 3, 8, 2
Ngũ Hành tiên thiên vốn là :
1 – 6 là thủy ở phương Bắc; 4 – 9 là Kim ở phương Tây.
2 – 7 là hỏa ở phương Nam; 3 – 8 là Mộc ở phương Đông.
1 – 6 – 4 – 9 tổ hợp thành Kim Thủy tương sinh .
2 – 7 – 3 – 8 tổ hợp thành Mộc Hỏa tương sinh.
Bởi thế Tây tứ trạch là các cục Kim Thủy tương sinh; Đông tứ trạch là các Cục Mộc hỏa tương sinh.

2. Sự phối hợp bốn trạch Đông hoặc tây phù hợp quy luật hợp ngũ , hợp thập, sinh thành của Hà Lạc:
Tây Tứ Trạch ( Càn Khôn Cấn Đoài ) :
Càn 9 với Đoài 4 , Khôn 1 với Cấn 6 tức là 1 – 6 , 4 – 9 sinh thành Cục của Hà Đồ.
Càn 9 với Khôn 1 , Đoài 4 với Cấn 6 tức là hợp lại thành 10. ( 10 tức là một mang ý nghĩa quay về với Đạo )
Càn 9 với Cấn 6 , Khôn 1 với Đoài 4 là hợp thành 15, hợp thành 5 tức là Lạc Thư âm dương giao cấu Cục.
Đông Tứ Trạch ( Ly Khảm Chấn Tốn ) :
Khảm 7 với Tốn 2 , Ly 3 với Chấn 8 tức là 2 – 7 , 3 – 8 Hà Đồ sinh thành Cục.
Khảm 7 với Ly 3 , Chấn 8 với Tốn 2 , hợp lại thành 10 đối đãi, Thủy Hỏa tương xạ, Lôi Phong tương bạc Cục.
Khảm 7 với Chấn 8 , Ly 3 với Tốn 2 , hợp lại thành 15 , 5 tức là Lạc Thư âm dương giao cấu Cục.


3. Đông Tây Trạch phù hợp quy luật Âm Dương tương phối :
Theo Tiên Thiên Bát Quái có thể thấy :
Càn Đoài là lão Dương; Khôn Cấn là lão Âm.
Tốn Khảm là thiếu Dương; Chấn Ly là thiếu Âm.
Tây tứ trạch Càn Khôn Cấn Đoài là lão Dương phối lão Âm.
Đông tứ trạch Ly Khảm Chấn tốn là thiếu Dương phối thiếu Âm.

Phù hợp quy luật “Lão phối lão , thiếu phối thiếu, âm dương tương phối là ý tốt”
Tổng hợp lại các diều phân tích ở trên chúng ta có thể thấy Bát Trạch phái lý luận xuất phát từ Tiên Thiên Hà Đồ Bát Quái, nhưng ứng dụng vào phương vị Hậu thiên bát quái.

BÁT TRẠCH TAM QUÁI KHÍ

0

Bát trạch Tam quái khí

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Bát trạch chân pháp Tây tứ trạch mệnh ứng toạ càn đoài khôn cấn, Đông tứ trạch mệnh ứng tọa khảm chấn tốn li.
La bàn nhị thập tứ sơn, các hữu âm dương, âm dương thuộc tính theo hậu thiên bát quái nhị thập tứ hào:
Khảm quái do âm dương âm 3 vạch mà thành quái, nên Khảm cung nhâm là âm, Tí là dương, quý là âm.
Cấn quái do dương âm âm 3 vạch mà thành quái, nên Cấn cung sửu là âm, cấn là âm, dần là dương
Chấn quái do âm âm dương 3 vạch mà thành quái, nên Chấn cung giáp là dương, mão là âm, ất là âm
Tốn quái do dương dương âm 3 vạch mà thành quái, nên Tốn cung thìn là âm, tốn là dương, tỵ là dương

Ly quái do dương âm dương 3 vạch mà thành quái, nên Ly cung bính là dương, ngọ là âm, đinh là dương
Khôn quái do âm âm âm 3 vạch mà thành quái, nên Khôn cung mùi là âm, khôn là âm, thân là âm
Đoài quái do âm dương dương 3 vạch mà thành quái, nên Đoài cung canh là dương, dậu là dương, tân là âm
Càn quái do dương dương dương 3 vạch mà thành quái, nên Càn cung tuất là dương, càn là dương, hợi là dương
Tam sơn hợp thành đại quái là Càn, gọi là vũ khúc thăng quan thôi hôn cách
Tam sơn hợp thành Cấn là tham lang dương danh cách
Tam sơn hợp thành Li là phá quân hoành tử cách
Tam sơn chỉ khí khẩu, hướng, táo tam sơn,
Công khai thử bí quyết, dĩ chính thị thính.Bát trạch thượng thừa pháp phải cầu nạp giáp, cửu tinh, quái khí. Nhiều người học Bát trạch biết Đông Tây nhị trạch, Đại du niên, Tiểu du niên mà không biết theo dấu đó để tầm nạp giáp, cửu tinh, quái khí. Đâu phải người xưa che dấu học thuật, chẳng qua là TÂM BẤT CẦU NÊN BẤT NGỘ mà thôi.=========================

Thiên không phải “Trời” như những ông thầy phong thủy lơ mơ hay nói, mà chính là “Thời gian”. Địa không phải là “Đất” mà chính là “Không gian”. Nhân thì chính là con người. Hòa hợp Thiên-Địa-Nhân chính là sự xắp xếp hoàn cảnh chung quanh con người(nhà cửa, bếp, giường… mồ mả..) phù hợp với không gian và thời gian, sự phù hợp cao nhất sẽ làm con người dễ thành công nhất.


Thời nhà Đường bên Trung Hoa(thế kỷ 7 đến 10), Vua Đường thấy hình thế núi sông Việt Nam hùng vĩ, e ngại hình dáng núi sông đó sẽ sinh ra những nhân vật kiệt xuất có thể gây khó khăn cho Trung Hoa sau này(và thực tế là vậy) nên một mặt cho những nhân vật thật giỏi về phong thủy bí mật qua Việt Nam tìm các mạch núi sông để phá đi, một mặt sai quốc sư đương triều là Nhất Hành dựa vào bát quái ngũ hành để tạo ra một loại thuật Phong thủy giả tạo truyền vào cho người Việt Nam để họ sử dụng, từ đó tự hại chính mình. Trớ trêu thay, khi thuật Phong thủy giả tạo đó truyền vào Việt Nam được vài năm thì lại truyền ngược lại Trung Hoa và được phổ biến với tên gọi Phong thủy Bát Trạch và được lưu truyền đến ngày nay cả ở Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Mã Lai, Philippin…  Phong thủy Bát Trạch mặc dù không chính xác nhưng lại tồn tại lâu như vậy có lẽ do sự dễ học và tính hợp lý của nó(mặc dù là học thuyết giả nhưng được tạo ra từ Nhất Hành là người rất giỏi Dịch lý ngũ hành nên tính hợp lý khá cao). Phong thủy Bát Trạch bao gồm khá nhiều thứ nhưng nói chung có mấy điểm chính: – Chia hướng ra làm 8 hướng: Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông Nam, Nam, Tây Nam, Tây, Tây Bắc. Ứng với đó mỗi một người tùy năm sinh của mình sẽ có 4 hướng tốt và 4 hướng xấu. – Chia các sao ra 2 loại tốt và xấu; loại tốt theo thứ tự giảm dần như sau: Sinh khí, Thiên y, Phúc đức, Phục vị; loại xấu theo thứ tự tăng dần như sau: Lục sát, Họa hại, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh. – Xem phía sau nhà(mộ) là Huyền vũ(con rùa đen), phía trước là Chu tước(chim đỏ), bên trái là Thanh long(rồng xanh), bên phải là Bạch hổ(cọp trắng).  – Lý thuyết chủ chốt của Phong thủy Bát trạch nhiều người hay nói là Đại du niên biến quái, dùng phép biến quẻ để xác định tốt xấu cho 8 hướng bên trên.  – Song song đó là Tiểu du niên biến quái, cũng dùng phép biến quẻ nhưng khác với phép biến quẻ bên trên, để xác định cụ thể từ cung vị(8 hướng chia làm 24 cung vị) tốt xấu như thế nào mà mở cửa, đặt bếp, đặt thủy(nước), phòng ốc…
Hầu hết những người học Phong thủy Bát trạch đều biết 2 phép này, tuy nhiên ít có người đạt đến đỉnh cao của Phong thủy Bát trạch, vì muốn đạt được đỉnh cao của Phái này phải biết sử dụng Tam quái khí. Tam quái khí của Bát trạch hình thành một vùng khí lưu chuyển theo hình tam giác đều, mỗi một cạnh là 120 độ, Bát quái 8 cung chia thành 24 cung vị thì cứ cách 8 cung một quái khí, nối 3 điểm đó lại sẽ là một tam giác đều. Biết cách kích hoạt Tam quái khí thì có thể chuyển được nhà suy thành vượng.
“Tấn thế Cảnh Thuần truyền thử thuật

diễn kinh lập thuyết xuất Huyền không”
Tuy nhiên thuật Phong thủy của họ Quách này chỉ Vua chúa và các quan lại cấp cao của Trung hoa mới được phép tiếp cận, dân gian bị cấm hoàn toàn. Theo thời gian trôi đi, đến thời nhà Đường, tướng An Lộc Sơn vì Dương quý phí mà làm loạn, vua tôi nhà Đường tạm thời thất thế phải đi trốn nạn, lúc đó tại Thiên văn đài có một vị quan tên Dương Quân Tùng, nhân cơ hội triều đình rối ren mà lấy đi toàn bộ các sách Phong thủy trong tàng thư các của vua Đường, chạy nạn về Giang Tây ở ẩn, hơn 10 năm sau ông xuất hiện dùng thuật Phong thủy đặt mồ mả, nhà cửa giúp người nghèo khổ có của ăn của để, danh tiếng cả đất nước Trung Hoa, sau khi ông mất nhiều nơi lập miếu thờ gọi là miếu Dương Công.
Dương Công có để lại đời mấy bộ kinh văn Phong thủy, tuy nhiên rất khó hiểu, cho đến nay số người hiểu được chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay mà thôi. Các giai thoại về ông rất nhiều và nhiều sách viết về Phong thủy cũng mượn danh tên ông, tuy nhiên sự thực Dương Công chỉ để lại các quyển sau:
“Thanh Nang Áo Ngữ”
“Thiên Ngọc kinh”
Hai quyển này đều viết bằng mật ngữ(câu chữ ẩn ý) nên đã làm cho giới Phong thủy từ đó đến nay vẫn điên đầu diễn giải, tuy nhiên xuyên suốt cả 2 quyển đâu đâu cũng thấy Dương Công nói về Âm Dương, đây chính là nền tảng của thuật Phong thủy:
“Tả vi Dương, Tí Quý chí Hợi Nhâm
Hữu vi Âm, Ngọ Đinh chí Tỵ Bính
Thư dự Hùng giao hội hợp Nguyên không
Hùng dự Thư Nguyên không quái nội thôi”
Ông có đệ tử chân truyền tên Tằng Văn Địch tiếp bước ông lưu truyền thuật Phong thủy đến họ Liêu, Lại Văn Tuấn… đến quốc sư triều Minh là Lưu Bá Ôn được xem như chân truyền. Tằng Văn Địch nổi tiếng bởi quyển Thanh Nang Tự, được xem là diễn giải một phần 2 quyển sách trên của Dương Công:
“Giang Nam lai Long giang Bắc vọng
Giang Tây long khứ vọng giang Đông”
Những nhân vật bên trên nổi danh bởi việc đặt mồ mả mà sau đó trong dòng họ những người được đặt mộ sinh ra vua chúa, quan lại cao cấp, danh tướng…

Trong suốt thời gian từ triều Tấn đến Minh, thuật Phong thủy sinh ra vô vàn phái: Bát trạch, Phi tinh, Tam hợp, Ngũ hành, Cơ môn, Bát quái, Huyền không, Đại quái…. đến cuối thời nhà Minh thì thực sự loạn, các môn phái tranh nhau thể hiện mình là Phong thủy chính thống gây nên rất nhiều nhiễu loạn trong Trung Hoa và các nước lân cận(trong đó có Việt Nam).

CÁCH SẮP XẾP CÁC LOẠI BÁT QUÁI

0

Cách sắp xếp các loại bát quái

Phong Thủy Thăng Long Sưu Tầm
Như chúng ta đã biết qua các bài trước về phép tính Bát San bằng số Lạc:
A) Ngũ hành đồng loại hoặc Tương Sinh
Hợp Số Sinh Thành là Sinh Khí
Cùng Số là Phục Vị
Tổng số (bỏ 10) 5 là Thiên Y
Tổng số 10 là Diên Niên

B ) Ngũ hành tương khắc
Tổng số 1 & 9 là Họa Hại
Tống số 2 & 8 là Tuyệt Mệnh
Tổng số 3 & 7 là Ngũ Quỷ
Tổng số 4 & 6 là Lục Sát


Trong quy tắc Thiên Can Ngũ Hóa
Giáp Kỷ hóa Thổ
Ất Canh hóa Kim,
Bính Tân hóa Thũy
Đinh Nhâm hóa Mộc
Mậu Quý hóa Hỏa
Ta thấy rằng tất cả 5 hóa đều do sự tương tác của ngũ hành tương khắc mà Hóa. Nếu ta sắp 10 Can theo vòng tròn thì ta thấy 5 cặp Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm, Mậu-Quý, đều ớ vị trí tương xung đối diện với nhau.
Ta lại thấy trong Tiên Thiên Bát Quái, 4 cặp Thiên-Địa, Sơn-Trạch, Lôi-Phong, Thũy-Hỏa đều là tương xung đối diện với nhau, nhưng lại hợp 10.

Tất cả các loại Bát Quái sau đây đều căn cứ theo sự thu nhập, tức nhìn từ ngoài vào trong.

Bát Quái Sinh Khí
[7][6][4]
[8][-][3]
[9][1][2]
Posted ImagePosted ImagePosted Image
Posted Image——-Posted Image
Posted ImagePosted ImagePosted Image
6-1, 7-2, 8-3, 9-4 = Sinh Khí

Bát Quái Thiên Y
[9][4][7]
[3][-][2]
[8][1][6]
Posted ImagePosted ImagePosted Image
Posted Image——-Posted Image
Posted ImagePosted ImagePosted Image
4-1, 9-6, 3-2, 8-7 = 5 Thiên Y
Bát Quái Họa Hại
[6][1][7]
[9][-][2]
[4][8][3]
Posted ImagePosted ImagePosted Image
Posted Image——-Posted Image
Posted ImagePosted ImagePosted Image
1-8, 6-3 = 9
9-2, 4-7 = 1
1, 9 Họa Hại
Bát Quái Ngũ Quỷ
[6][1][8]
[4][-][3]
[9][2][7]
Posted ImagePosted ImagePosted Image
Posted Image——-Posted Image
Posted ImagePosted ImagePosted Image
1-2, 6-7 = 3
4-3, 9-8 = 7
3, 7 Ngũ Quỷ
Bát Quái Tuyệt Mạng
[6][1][8]
[9][-][3]
[4][7][2]
Posted ImagePosted ImagePosted Image
Posted Image——-Posted Image
Posted ImagePosted ImagePosted Image
1-7, 6-2 = 8
9-3, 4-8 = 2
2, 8 Tuyệt Mạng
Bác Quái Lục Sát
[9][4][8]
[1][-][3]
[6][2][7]
Posted ImagePosted ImagePosted Image
Posted Image——-Posted Image
Posted ImagePosted ImagePosted Image
4-2, 9-7 = 6
1-3, 6-8 = 4
4, 6 Lục Sát

Lập quẻ Mai Hoa

0
Lập Quẻ Mai Hoa
Lập Quẻ Dịch
Bói Lục Hào
1 – Quẻ Mai Hoa là gì.

Mai Hoa Dịch số (chữ Hán: 梅花易數) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hành, bát quái kết hợp thuyết vận khí, bát quái kết hợp ngũ hành… bằng cách lập quẻ chính, hào động và quẻ biền; căn cứ vào sự vật, hiện tượng quan sát hay nghe được, đo đếm được hoặc giờ, ngày, tháng, năm xảy ra (theo âm lịch).

2 – Cách lập quẻ Mai Hoa
3- Xem quẻ dịch miễn phí
  • Các bạn vào group hỗ trợ luận giải https://www.facebook.com/groups/phongthuythanglong/. Là nơi giao lưu luận giải sôi động và quy tụ rất nhiều thầy giỏi trong nước và quốc tế.
  • Đưa hình ảnh lá số của mình lên và hỏi việc cần quan tâm .
- Advertisement -

BÀI VIẾT KHÁC